Saturday, December 3, 2016



Hai Mươi Sáu Năm Lưu Đày

Cuốn sách Hai Mươi Sáu Năm Lưu Đày là một bản cáo trạng nói đến tội ác của chế độ CSVN trước lương tâm nhân loại. Người CS áp dụng chủ thuyết Tam Vô, mà trong đó 3 yếu tố cấm kỵ của họ là Vô Tổ Quốc, Vô Gia Đình và Vô Tôn Giáo. Yếu tố thứ ba đã ảnh hưởng trực tiếp đến tác giả Huỳnh Văn Ba, tức Thượng tọa Thích Thiện Minh.

Tác phẩm Hai Mươi Sáu Năm Lưu Đày trình bày những án tù cực hình, dã man mà người tu sĩ bất khuất chịu đựng. Ông mất ngôi chùa nơi thờ phượng, hành đạo, ông mất quê hương trong 26 năm lưu đày xa xứ, ông mất quyền làm người với nhân vị xứng đáng của một nhà tu hành.

Xin hãy lắng nghe tiếng lòng của ngài Thiện Minh để thấy rằng đức tính bi trí dũng của người con Phật vẫn sáng ngời trước những đàn áp của bạo lực. (Việt Hải)

oOo



“26 Năm Lưu Đày”
của Thượng tọa Thích Thiện Minh


Tôi hân hạnh được cô Trâm Oanh bên Đức Quốc gửi biếu cuốn "26 Năm Lưu Đày" của Thượng tọa Thích Thiện Minh. Tôi như bị thôi miên nhìn vào cái đề tựa. Hai mươi sáu năm là một khoảng thời gian quá dài, thời gian mà vị tu sĩ chịu đựng bao nhiêu nỗi nhục nhằn bị tra tấn, những cực hình lên tinh thần và thể xác. Tôi đọc 12 chương sách hay xuyên suốt 270 trang giấy, mà mỗi chương chuyên chở tiếng lòng bất khuất của vị tù nhân lương tâm đáng kính này.

Thượng Tọa Thích Thiện Minh có thế danh là Huỳnh Văn Ba, sinh trưởng tại tỉnh Bạc Liêu. Trong chương 1 của sách, ngài cho biết là thân phụ là một tín hữu Cao Đài: "Cha tôi có tấm lòng nhân hậu, tính tình rộng rãi hay giúp người. Mẹ tôi là một người đàn bà hiền thục, mẫu mực vất vả quanh năm vì chồnng con.” (Tr. 8) Có lúc gia đình phải tha hương cầu thực tại Vĩnh Bình (Trà Vinh). Chính tại nơi đây cậu bé Hùynh Văn Ba đã có duyên với cửa Thiền và được cha mẹ cho phép xuất gia. Năm 17 tuổi (1972) tác giả thọ giới Sa Di và năm 22 tuổi (1977) thọ Cụ Túc Giới do Hòa Thượng Thích Trí Thủ, rồi sau này được cử về trụ trì tại một ngôi chùa tại Vĩnh Bình và đã được đồng bào Phật tử tại đây gọi thân mật bằng các tên “ông đạo, huynh, cậu và thậm chí bằng con, bằng cháu nữa""

Chương 2 kể về biến cố đau thương 30 Tháng 4 xảy đến như một cơn đại hồng thủy mà dùng hai cụm từ ngữ là "Ách Vận Đại Biến" hay "Hắc Ám Nhật Tử" (Ngày Đen Tối). Sự hống hách của các cán bộ Việt Cộng sau khi xâm chiếm miền Nam, với tinh thần Tam vô chủ nghĩa: vô gia đình, vô tổ quốc và vô tôn giáo. Tên cán bộ Hai Thổ,  xã đội trưởng du kích, ngang ngược chỉ vào tượng Đức Phật Đản Sinh, cười khinh khỉnh tuyên bố xấc xượt: "Thằng Phật nhỏ xíu này nó không có công làm cách mạng để đánh đuổi Đế Quốc, tại sao phải thờ nó? Nó ngồi một chỗ, để chờ người ta đem quà lại dâng cúng. Nó là thành phần giai cấp bóc lột mà!”. Đoạn y bước lên Chánh Điện lấy tay sờ vào tượng Phật Thích Ca Mâu Ni và nói: "Thằng Phật nầy ăn gì mà mập quá vậy!". Một lần khác sau khi Thượng Tọa bị bắt, Hai Thồ vào chùa chỉ tay tượng Phật nói: "Thằng Thiện Minh đã bị bắt giam rồi, còn mấy thằng Phật xi măng nầy cũng sẽ áp giải đi luôn". Theo chủ trương tiêu diệt ảnh hưởng của tôn giáo bằng cách khống chế và tịch thu mọi phương và tài sản của các tôn giáo, ngôi chùa Vĩnh Bình của ngài bị chiếm cứ bởi bạo lực của giới cầm quyền, mà đến nay Cộng Sản vẫn chưa trả lại tài sản này cho ngài.

Chương 3 và 4 thầy Thiện Minh mô tả cảnh tù tội. Thầy có kiến thức về thuốc nam cũng như châm cứu và biết võ thiếu lâm. Thầy làm công tác từ thiện, phụ trách mở thêm một phòng thuốc nam, châm cứu từ thiện tại chùa Từ Quang, ngoài phòng thuốc tại chùa Vĩnh Bình, khi gặp một đứa bé đau nặng gần chết vì cơn bệnh hô hấp, thầy ra tay cứu chữa cho bé. Đứa bé khỏi bệnh, người cha đến cám ơn thầy. Anh này là một kháng chiến quân phục quốc. Duyên thời cuộc đưa đẩy thầy vào Mặt Trận Nghĩa Quân Cứu quốc, Việt Nam Dân quốc. Khi bị bại lộ, thầy đứng ra nhận tội chỉ huy để tình nguyện hy sinh, vì càc anh em khác có vợ con. Thời buổi ban đầu khi CS chiếm được miền Nam, họ cai trị bằng nanh vuốt độc ác. Tội chống phá "Cách Mạng" lãnh án tử hình dễ dàng.

Tác giả của sách "26 Năm Lưu Dày" rất thích văn thơ, bằng chứng là nhiều trang sách đã được đăng thơ. Bốn câu thơ sau đây cho thấy tâm hồn thích thi phú của thầy:

"Tu sĩ quyết chùa am bế cửa
Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha
Đền xong nợ nước thù nhà
Thiền môn trở gót phật đà Nam Mô..."

Tác giả thuật lại vì tin người nên âm mưu trốn trại tù bị bại lộ, đưa tới một số người bị bắt, trong đó có người em ruột của thầy, Huỳnh Hữu Thọ, vì mang theo vũ khí yểm trợ cho cuộc vượt ngục tại trại giam huyện Vĩnh Lợi. Thầy Minh và các đồng chí được chuyển sang trại tù Minh Hải. Đây là nơi giam giữ những người mới bị bắt với nhiều tội trạng khác nhau, giam vào đây là để điều tra khai thác vì nơi này có đủ mọi biện pháp được áp dụng khắt khe trong công tác tra hỏi. Tại đây, từ việc đánh đập bằng tay chân, bằng gậy gộc, bằng dùi cui, bằng báng súng cho đến cùm, quyện, giam vào phòng giam riêng là điều xảy ra hàng giờ hàng buổi. Trại giam có đủ mọi cán bộ, công an từ Bắc vào Nam, kể cả kháng chiến lâu năm cho đến những tên công an loại mới vào ngành mà dân gian thừơng gọi là bọn “công an 30/4”. Họ đều có những ngón nghề độc đáo để điều tra, nào là đánh túi bụi, đánh kiểu trên đao dưới búa, còng tay đứng, còng chéo tay sau lưng, còng ngồi đan chéo hai tay. Họ dùng nhục hình để điều tra, bản thân thầy khi giam giữ tại đây, cũng không tránh khỏi những nhục hình này. Hàng ngày hai chân thầy luôn ở trong cùm, bị cùm suốt ngày đêm, suốt tháng quanh năm. Hai chân bị cùm quyện tại chỗ, không thể đứng thẳng được nên dần dần bị tê liệt. Còn tiểu tiện thì trong một cái hũ, mỗi khi đi vệ sinh phải nhờ người khiêng hũ lại dùm. Hũ vệ sinh vừa có phân, vừa có nước tiểu. Mỗi ngày công an cho người đem đổ. Có khi đến 2-3 ngày mới đổ nên phân và nước tiểu tràn ra ngoài ướt cả chỗ nằm bốc mùi hôi thối! Sau khi đổ hũ, công an ra lệnh tù nhân phải vào ngay thật nhanh cho nên chiếc hũ chỉ rửa sơ sài, sau đó họ múc nước ngay chỗ rửa hũ mang vào cho những người đang bị cùm trong quyện như thầy để tắm. Mỗi người trong cùm chỉ được vài ca nước. Ca múc nước tắm cũng là ca đựng cơm ăn hàng bữa…Chiếc hũ luôn luôn còn sót lại phân người, nhất là phân cao lương loại lương thực rất cứng ăn vào khó tiêu, loại này dùng để ăn độn thay thế cơm. Khi tắm phân dính cả vào mặt, vào đầu đó là chuyện thường ngày. Phòng giam kỷ luật rất chật hẹp khoảng hơn 3m2 mà nhốt có khi lên đến 20 người, chỉ ngồi cũng không đủ chỗ làm gì có khoảng trống để nằm. 

Trong vòng lao lý tác giả xót xa cho gia đình, nghĩ về hoàn cảnh của mình, là người anh lớn vì thời cuộc oan khiên: "Vì hoàn cảnh quá khổ nghèo do thảm trạng xã hội, nên gia đình thầy gồm: Em thứ 7 của thầy tên Nghĩa phải nghỉ học để đi bán bánh mì dạo nuôi gia đình. Em thứ 6 tên Nhiều phải đạp xe vua, loại xe phải đạp bằng 2 chân, phía sau có gắn cái thùng  để chở thêm được vài người. -Em thứ 5 mới lập gia đình hơn 1 năm, vừa sinh được một bé gái, bị nghi ngờ có liên quan vụ án nên đã bị tù . Em gái thứ Tư bán mía, khoai, cóc, ổi,...trước nhà. Hãy đọc tiếp:

“Mẹ tôi tuổi cao sức yếu lại bị bệnh thường xuyên vóc người mỗi ngày một gầy mòn, thân hình tiều tuỵ lo buồn vì chồng, vì con, tức cha tôi vừa qua đời cách đây mấy tháng, nay đến tôi và đứa em trai thứ Năm đều bị tù tội. Một điều xót xa là các em tôi còn thơ ngây nhỏ dại đang trong lứa tuổi cắp sách đến trường, tuổi chỉ biết ăn, biết học, biết chơi. Nay đành từ giã mái trường để tìm kế sinh nhai, vừa nuôi mẹ già đang đau yếu, vừa dành dụm ít tiền hàng tháng để đi thăm nuôi 2 người anh đang ở tù tận mũi Cà Mau... Em trai tôi là một học sinh hiền lành ngoan ngoãn, học rất giỏi, không những lễ phép với thầy cô mà còn rất có tình có nghĩa với bạn học cùng lớp và rất mực hiếu thảo với mẹ cha. Em học luôn đứng nhất, nhì trong lớp lại được bầu làm trưởng lớp nữa! Nhưng vì hoàn cảnh… nên lỡ dỡ việc học hành. Có những buổi đi bán bánh mì ngang qua trường cũ, em cố đi qua thật nhanh, và kéo chiếc nón sụp khỏi vành tai để cho các bạn đừng nhìn thấy. Thật ra trong lòng em rất tiếc nuối và rạo rực trào dâng một nỗi niềm nữa vui nữa buồn khôn tả. Em hình dung lại hình ảnh của thầy cô, của bạn bè … đôi chân em dường như muốn chùn lại, nước mắt lưng tròng."

Văn phong của tác giả trung thực trong nỗi chua xót trong tâm can của tôi. Là một tăng sĩ, một sĩ phu không khuất phục bạo lực. Tôi đọc đoạn thầy đấu khẩu với tên Nguyễn Ngọc Cơ tự là Sáu Búa, Viện trưởng viện kiểm sat nhân dân tỉnh Minh Hải. Lý do mà ông ta có biệt danh là Sáu Búa vì thời kỳ còn hoạt động trong rừng rú ông này phụ trách thi hành án tử hình. Một hôm nọ, tòa án xử tử hình một bà lão trên 70 tuổi, tuổi đã gần đất xa trời, cụ bà bị khép vào tội "làm điềm" tức là chỉ điểm viên cho quân đội VNCH. Đáng lý ra ông ta thi hành án xử tử bằng mã tấu, nhưng đây là phiên tòa nhân dân lưu động đặc biệt, nên khi xử xong là thi hành án ngay. Hôm đó ông không đem theo mã tấu bên mình, nên đành tạm mượn 1 chiếc búa của dân làng. Ông phải vất vã đập đầu bà cụ đúng 6 nhát búa thì bà mới tắt thở. Người chứng kiến sự kiện man rợ trên cho rằng cụ bà bị hàm oan nên khi chết đôi mắt cứ mở trao tráo, mà không chịu nhắm nghiền lại.

Ra tòa xét xử, thầy Thiện Minh bị Sáu Búa hỏi vặn như răn đe:
- Anh có sợ chết không?
Thầy trả lời: "Mọi người trên đời này chỉ chết có một lần, nhưng ai ai cũng muốn sống, và cũng chẳng có ai sống mãi trên đời, nhưng sống hay chết như thế nào để có ý nghĩa, có ích cho đời đó mới là điều quan trọng bởi vì "Tử đắc kỳ sở". Tôi làm việc này để đồng bào được sống đúng ý nghĩa của con người, đúng với Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền theo nghị quyết 217A ngày 10-12-1948".
Sáu Búa hỏi tiếp:
- Sống đúng với ý nghĩa của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền là như thế nào ?

Thầy trả lời: "Phải có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Dân quyền không bị tước đoạt, giá trị nhân phẩm của con người không bị chà đạp, mưu cầu hạnh phúc bằng sự chân chính chứ không phải tóm thâu của kẻ khác đem về cho mình làm chủ"
Ông ta lại nói tiếp:
- Nhưng, nếu chúng tôi đem anh xét xử với tội chết thì anh nghĩ thế nào ?

Thầy trả lời:
- Nếu cần phải sống cho sự nghiệp và lý tưởng được sống mãi ta phải cố sống và nếu cần phải chết cho sự nghiệp và lý tưởng được sống mãi, đôi lúc ta cũng vui vẻ chết, đó là sự dũng cãm hy sinh để trở thành bất tử, đối với nhà tu là thánh hóa linh hồn.
Sáu Búa lắng nghe. Thầy tiếp lời:
- Vả lại ông biết rồi đạo Phật chúng tôi chết là giải thoát.
Ông ta nói:
- Thôi đừng giảng đạo ở đây nữa, chừng nào về chùa cứ mà giảng đạo, sợ không chịu nổi nửa mức án, chứ làm gì có thể về chùa.

Thời gian "làm việc" hơn nửa giờ đồng hồ, hai bên cứ đấu lý qua lại vẫn chưa đi đến đâu. Sáu Búa lườm nguýt tỏ vẻ khó chịu và hỏi thẳng vào nguyên nhân "làm loạn, phản động":
- Anh cho biết ai là người đứng đầu tổ chức Trung ương của anh ?

Thầy Minh trả lời:
- Ở Trung ương có Thượng Tướng Trần Văn Trà và Bà Nguyễn Thị Bình.
Ông ta đổi sắc mặt lấy tay đập bàn và nói một cách hằn hộc:
- Tại sao anh lại dám khai hai đồng chí cao cấp của tôi, trong khi hai đồng chí này có mấy chục năm tuổi Đảng, đã đóng góp nhiều cho cách mạng để đem đến sự thành công vẻ vang như ngày hôm nay, mà anh cho rằng phản động như anh vậy à! Tại Sao anh không khai cả tôi luôn đi, tôi tên là Nguyễn Ngọc Cơ tức Sáu Búa nè !

Khi nghe xong câu thách đố, thầy tỏ thái độ khó chịu và nhìn Sáu Búa nói thêm:
- Xin lỗi ông tôi không phải là quan, chứ nếu tôi là quan thì tướng mạo của ông xin làm lính tôi, tôi cũng không nhận, thì khai ông làm gì?

Có lẽ bị cú sốc bất ngờ như xối gáo nước lạnh vào mặt, Sáu Búa nổi nóng liền vói tay chụp lấy cái bình trà để trên bàn và dự định ném vào người thầy. Theo sự tường thuật, thầy điềm nhiên phát biểu:
- Tư cách một ông Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, mà có hành vi thất sách đối với người tù chính trị tôn giáo như tôi à!

Sáu Búa bỗng dừng tay lại và quát to:
- Đồ ngoan cố, mầy là tên phản động, chuyên khuấy đục và bôi bẩn Đảng, mầy về đi!

Chúng ta thấy rằng giới luật pháp tuân lệnh Đảng CS u mê chỉ là bọn vô lại, côn đố tiếp tay cho tội ác để đàn áp nhân dân mà thôi.

Một trường hợp thương tâm khác khi thầy kể lại trong chương 5 là:
"Tôi còn nhớ chỉ sau ngày 30-4-1975 vài hôm, thì ông xã trưởng chính quyền cũ thường được gọi là ( ông xã Điểm) ông xã này trước kia thường bắt nhiều Việt Cộng ban đêm bò ra gài mìn phá đường, phá lộ giựt sập cầu và rãi truyền đơn v.v… Đến khi Sài Gòn đổi chủ, Việt Cộng tiếp quản chính quyền thì ông xã Điểm bị đem xử tử tại xã. Trước khi xử bắn họ tập họp dân lại để kể tội ông, dân theo Việt Cộng dùng cây, kẻ dùng đá, đòn gánh đánh đập túi bụi, đầu cổ ông bị giập nát, mình đầy máu me, máu tuôn chảy đầm đìa lênh láng mà họ còn không buông tha. Trong khi hai tay bị trói chặt, miệng nhét đầy giẻ và thêm một trái chanh rồi bịt miệng bằng một chiếc khăn đen, đã vậy mà hai ba người còn dùng mấy cục đá thật to chạy đến đập vào đầu ông xã Điểm một lần nữa, trước khi lôi kéo thân ông đến một gốc cây họ buộc thật chặt và bắn ba phát súng. Khi nạn nhân ngã qụy tên trưởng toán đến bên xác nắm tóc lên và nả vào màng tang một viên đạn gọi là “ân huệ sau cùng” trước khi kéo xác lấp vào hố."

Khi được chuyển sang trại cải tạo Cây Gừa lại âm mưu vượt trại và rồi bị thất bại. Năm bạn đồng tù toa rập đào lổ thoát thân, khi nội vụ bất thành, một người bị xử tử, bốn người còn lại bị đày ra miền trung, giam vào trại tù Xuân Phước, nằm trong một thung lủng tử thần, nơi rừng thiên nước độc. Nơi đây tác giả sau cùng lại gặp nhiều tù nhân của càc tôn giáo được giải về đây. Xuân Phước khét tiếng với khu kỷ luật gồm 3 loại cùm, loại khoen tròn, loại khoen chữ V và loại khoen chữ V có khía hình răng cưa. Tùy theo thái độ của người tù mà họ ứng xử, hoặc phát cơm chan ngập nước muối, ăn vào mặn đắng không tài nào nuốt nổi. Đặc biệt trại tù xử dụng những tên gọi là Trật tự để trù dập, đánh đập, bớt nước uống, bớt cơm của tù nhân. Ở trại K1 có tên Tân mang tội hình sự là bộ đội CS, đã từng ăn gan người ở Campuchia, nên đôi mắt lúc nào cũng đỏ ngầu trông phát khiếp. Tại nhà tù Xuân Phước sự ngược đãi tù nhân rất tàn tệ, người tù sống trong cảnh thiếu thốn mọi bề, vô cùng nghiệt ngã. Nhiều tù nhân bị kiệt sức vì bị cưỡng bức lao động khổ sai hoặc bị đánh đập tàn bạo man rợ, tính trung bình thì tháng nào cũng có vài người chết. Có khi chết liên tục một tháng 3 đến 5 người, đây là chuyện thường xảy ra và thầy đã ra câu thơ:
«Trông thấy người khác chết
Trong lòng rất xót xa
Nửa thương xót kẻ chết
Nửa nghĩ tới phiên ta...! »

Ở hoàn cảnh cùng kẹt không lối thoát người tù đâm ra ù lì liều lĩnh. Một khi chí đã quyết nên phải ra tay, từ đó thầy Thiện Minh cùng với một số bạn đồng tù thân quen trong trại đứng ra tổ chức cướp trại giải thoát cho tù nhân bạn, âm mưu là định giải cứu đem đi 700 người trong số hơn 1000 người của trại. Tất cả sẽ cùng nhau hoạt động trong rừng và hợp tác đấu tranh. Nhưng sự việc bị bại lộ cho nên tù nhân nổi loạn bị bắt và bị cùm quyện tay chân ngày đêm hơn 3 năm.
Trong thời gian điều tra thầy bị đánh đập dã man, đặc biệt những trận đòn hội đồng, bị đánh tập thể gồm có các tên cán bộ an ninh của trung tâm. Chúng đánh bằng báng súng, bằng tay chân và 100 roi điện. Trong một buổi điều tra để khai thác cung để bắt thêm người, các tên đao phủ an ninh trại đánh thầy bằng tay chân tới tấp vào thân thể, đầu, mặt. Phía sau có một tên cán bộ khác dùng họng súng dài, thúc mạnh vào lưng trúng ngay lá phổi làm thầy bị trọng thương té ngất xỉu, máu tuôn ướt đẫm cả áo quần. Sau khi tỉnh dậy, những tên hung thần nầy không cho thầy thay quần áo, thầy đành mặc áo dính máu luôn cho đến khi rách nát. Hậu quả, vết thương lá phổi của thầy đến giờ này cũng còn dây dưa chưa dứt hẳn, nó thường đau buốt và ho liên tục mỗi khi trái gió trở trời. Đánh đấm bằng chân tay và bá súng chưa đủ, chúng đánh tiếp thầy 99 roi điện chỉ vì đếm lộn một roi. Đến khi kết thúc điều tra vụ án trốn trại các tên nầy lập hồ sơ quy kết thầy tổ chức “chống phá trại giam".
Một bài thơ kỷ niệm được thầy cảm tác như sau:
«TU TÙ...!
Thêm dấu chữ Tu biến chữ Tù
Chung thân hai án ở thiên thu
Tay còng, chân quyện nơi u tối
Cửa sắt, tường cao chốn mịt mù

Thân thể hình hài trông yếu kém
Tinh thần, trí tuệ sáng trăng thu
Thiên đàng, địa ngục phân hai nẻo
Nửa kiếp thầy tu nữa kiếp tù...!
Nửa kiếp Thầy tu nửa kiếp tù
Thiền môn giã biệt bước chân du
Từ bi trí tuệ tình thương gọi
Bác ái nghĩa nhân xóa hận thù...

Y chiến ngày đêm luôn mặc giữ
Nâu sòng kinh kệ gác công phu
Nước non đáp trả tròn xong nợ
Tín, Hạnh, Nguyện, thành vẹn kiếp tu...!”

Trong trại tù thầy gặp những bạn đồng tù của các tôn giáo bạn như: Ông Phan Đức Trọng, 72 tuổi, là Giáo hội trưởng giáo hội "Hòa bình chung sống" ở Tây Ninh, ông là con nuôi của Trung tướng Trần Quang Vinh, Tổng Tư lệnh quân đội Cao Đài. Ông Trần Văn Nhành, một tín đồ thuần thành của đạo Hòa Hảo thuần tuý. Quý Linh Mục Nguyễn Văn Vàng thuộc dòng Chúa Cứu Thế, Linh Mục Nguyễn Quang Minh thuộc nhà thờ Vinh Sơn, Linh Mục Nguyễn Luân, thuộc giáo xứ Phan Rang, Linh Mục Nguyễn Tấn Chức, và nhiều nữa. Sống trong trại, tù nhân bị bạc đãi, quần áo bị mục nát, quần đùi không còn đủ để che thân. Linh Mục Vàng bị ghẻ mủ khắp thân thể, ngoại trừ trên mặt thì không có, ghẻ mủ dầy như dề cơm cháy khét đen, còn Linh Mục Nguyễn Quang Minh thì bị đánh trọng thương, đánh ho ra hộc máu miệng, và cả hậu môn, chỉ vì đem vào trại vài chiếc bánh “thánh" để rồi qua đời sau đó mấy ngày. Riêng Linh Mục Nguyễn Luân bị bệnh phổi nặng, vì chứng ung thư phổi. Do nhiều năm trong kỷ luật bị tra tấn, đánh đập, thầy Thiện Minh bị chứng viêm phổi nặng. Những lúc gần đây tôi được biết thầy thường ho ra máu.

Tình cảm liên tôn khi Phật giáo và Công giáo chia sẻ những khổ đau vì tai ách giặc Cộng. Cha Nguyễn Luân có biệt hiệu là ông Ba Không. Lý do những tên giám ngục thấy giam hãm ngài nơi kỷ luật quá lâu nên mời ngài lên "làm việc". Họ chỉ cần yêu cầu Linh Mục viết tiêu đề là:
"Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
và ký tên vào thôi! thì chúng sẽ cho Ngài ra khỏi hình phạt kỷ luật ngay. Thế nhưng Linh mục Luân lúc nào cũng viết như sau:
"Cộng Hoà Xã Hội chủ Nghĩa Việt Nam
Không độc lập - Không tự do - Không hạnh phúc".

Những tâm tình giữa Thượng Tọa Thích Thiện Minh và Linh Mục Nguyễn Luân "Ba Không" là khi xứ sở thật sự có tự do nhân quyền, thì một ngôi Chùa và một ngôi Giáo đường được xây kế bên nhau để lễ Giáng Sinh hay lễ Vu Lan thì Con chiên bên Công giáo và Phật tử được thong thả viêng thăm nhau như tinh thần hòa đồng tôn giáo, một ý niệm vô cùng cao đẹp, nhưng nay Linh mục Nguyễn Luân không còn nữa.

Thượng Tọa Thích Thiện Minh trong những chương cuối đế cập những gặp gỡ hay những kỷ niệm khi liên lạc với các bạn đồng tù của chế độ CSVN như Thượng Tọa Thích Không Tánh. Năm 1998, hai thầy gặp nhau trong dịp tiếp kiến phái đoàn Nhân Quyền của LHQ do Ông Abdel Rattah Amor hướng dẫn sang Viêt Nam. CS khuyến khích quý thầy sang Pháp định cư. Tuy nhiên, thầy Thiện Minh khẳng khái đề nghị 4 điểm với phái đoàn LHQ là CS phải:

- Thả tất cả tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm, tôn giáo đang bị giam giữ trong nhà tù CS vô điều kiện.

- Đòi trả lại tài sản của các tôn giáo và phục hồi quyền tự do tôn giáo một cách hoàn toàn trong đó có việc phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của GHPGVNTN.

- Xóa bỏ điều 4 hiến pháp của nước CHXHCNVN để thực hiện một chế độ đa đảng, đa nguyên và bình đẳng giữa các đảng phái.

- Tổng tuyển cử tự do với sự giám sát của LHQ, đôi bên đồng bộ chủ trương tình thương nhân đạo và hóa giải hận thù.

Trong nhà tù CS, thầy Thiện Minh có dịp Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, một nhân vật bất đồng chính kiến chế độ CSVN, và là Chủ Tịch của Cao Trào Nhân Bản Việt Nam, ông chia sẻ những viên thuốc bổ, thức ăn chay được nhét vào lổ thông hơi như tiếp tế cho sức khoẻ của thầy, ông thể hiện những tình cảm tốt của người bạn đồng tù. Vì thức ăn chay làm giống món thịt như thức ăn mặn nên thầy trả lại qua lổ thông hơi suýt bị bọn cai tù bắt được. Khi BS Quế được phóng thích nhưng ông vẫn cương quyết giữ tinh thần bất khuất và chủ trương dứt khoát đòi hỏi tự do và nhân quyền cho Việt Nam, điều này khiến thầy dành nhiều thiện cảm với vị bác sĩ này.
Một tù nhân đặc biệt khác là GS Doãn Quốc Sỹ, ông bị bắt vì đã gởi ra hải ngoại những truyện đả phá chế độ CS. Hậu quả GS Sỹ bị bắt trong vụ án nổi danh là "Biệt Kích Cầm Bút" và ông được xem như thủ lãnh củs nhóm nhà văn "phản động". Gặp nhau tại khám Chí Hòa, GS Sỹ sáng tác bài thơ ngắn kỷ niệm để tặng thầy, đại ý bài thơ về chú gà mổ những hạt gạo rơi vung vãi dưới đất (trang 223):

“Chú gà mà đi ăn đêm
Thấy hạt cơm mềm vung vãi đâu đây
Đêm khuya tội nghiệp cho mầy
Vất vả cành chầy một bóng thành hai.”

Tôi có nhắc GS Sỹ về bài thơ này ngày xưa, ông nói trong những ngày bị đọa đầy như vậy, những tù nhân nuôi lý tưởng khao khát tự do, họ trao đổi những chuyện trong tù và ngoài đời. GS Sỹ cũng nói thầy Minh có tính cương trực và thẳng thắn, rất đáng quý.

Tác giả kể tên nhiều vị gặp trong tù nữa. phần kết luận ở chương 12. Thầy Thiện Minh xác nhận mình là một thành viên của GHPGVNTN, đã bị chế độ CS giam cầm liên tục 26 năm, so với chiều dài lịch sử của dân tộc không là bao, nhưng so với một đời người quả là khủng khiếp. Thầy dành những lời đầy ân tình như khi GHPGVNTN được lãnh đạo bởi Đại Lão Hòa Thượng Tăng Thống Thích Huyền Quang và Hòa Thượng Viện Trưởng Thích Quảng Độ.
Thầy xác định lập trường của Giáo Hội là phục vụ dân tộc và chúng sanh. Do đó, dù ở đâu hay trong hoàn cảnh nào, Phật Giáo Việt Nam muôn đời vẫn là Phật Giáo Việt Nam, và muôn đời vẫn là của dân tộc Vịêt Nam. Đề cập về Hòa Thượng Viện Trưởng Thích Quảng Độ khi phát biểu về thái độ chính trị phải có của một công dân. Trên phạm vi tu hành, sự tham gia vào đời sống chính trị không có nghĩa là ra tranh chức vụ thế quyền, như ứng cử chức vụ dân biểu, hoặc lập đảng phái này nọ, mà là ý thức được trách nhiệm của mình đối với Tổ Quốc. Cho nên khi mọi người dân có quyền suy nghĩ về chính trị, phát biểu về chính trị và hành xử về chính trị thì đó là chúng ta biết xử dụng quyền công dân. Hãy cân nhắc lá phiếu của mình để chọn người xứng đáng đại diện cho mình hay bầu người cầm vận mệnh quốc gia thì dù muốn dù không cũng đã tham dự vào đời sống chính trị rồi.
Tôi nghe thầy nói trên đài phát thanh về Linh Mục Nguyễn Luân của xứ đạo Phan Rang đã có những khát vọng riêng tư trước khi mất. Ngài tâm sự là:

"Nếu được ra tù hai anh em mình cải cách mối liên hệ tôn giáo theo hướng mới chẳng hạn như: trước nhà thờ, hay bên cạnh Thánh đường thờ Chúa, có ngôi Chùa thờ Phật. Tín đồ Phật tử đi lễ nhà thờ cầu nguyện Chúa và ngược lại Con chiên của Chúa đến Chùa lạy Phật ngày Rằm, bởi các đấng xuất thế luôn chủ trương yêu thương mà người đời thường hay cố chấp. Một khi tinh thần hòa hợp chung thì thể chất mới kết hợp được cho nên nếu các Tôn giáo Đại đoàn kết tạo thành một khối vững chắc đi đầu, thì các tổ chức xã hội mới noi gương... Tôn giáo và nhân quyền là sức mạnh chính làm chuyển hóa chế độ bạo quyền này".

Tôi xót xa khi nghe thầy Thiện Minh nói on air về cái chết của Linh Mục Nguyễn Luân, tôi ngậm ngùi khi đọc những khát vọng của một cha xứ đáng kính nơi cuối trang 243 của sách "26 Năm Lưu Đày".


Như GS Doãn Quốc Sỹ nhận xét về sự cương trực và thẳng thắn của Thượng Tọa Thiện Minh, ngài đã trả một cái giá rất đắt là 26 năm tù tội chỉ vì muốn sống đúng với nhân vị, ngài không chùn bước trước bạo lực. 26 năm tù tội để tranh đấu cho quyền làm người. Nhà tranh đấu cho nhân quyền nổi tiếng tại Nam Phi là Nelson Mandela đã lớn tiếng phê phán, chỉ trích nạn kỳ thị màu da khi nhà cầm quyền thiểu số người da trắng đã bóc lột và đè đầu cởi cổ dân đa số dân da đen, để rồi Nelson Mandela chịu đựng 27 năm tù, loại tù chung thân biệt giam tại hòn đảo Robben Island, họ đánh đập trả thù cá tính ươn ngạnh bất phục tùng của ông. Thượng Tọa Thiện Minh không càch xa người lãnh giải Nobel hòa bình này của năm 1993 là bao, vì cả hai chấp nhận ngồi tù gần 3 thập niên cho giá trị cao quý của quyền làm người, cái quyền bẩm sinh của trời đất, nhân quyền không thể van nài hay xin xỏ để được ban phát mới có được.

Văn hào Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn được biết nhiều qua những tác phẩm nổi danh như Tầng Đầu Địa Ngục (The First Circle, truyện kể về trại tù khắt nghiệt Marfino, ngoại ô của Moskova) và Một Ngày trong Đời của Ivan Denisovich (One Day in the Life of Ivan Denisovich), và The Gulag Archipelago (Quần Đảo Ngục Tù), được tuyên bố trúng giải Nobel năm 1970 vì quá khứ cho thấy ông chống báng kịch liệt chế độ độc tài của Liên Sô. Tháng 7 năm 1945 ông bị kết án tù 8 năm tại các trại lao động khổ sai như là gulags cộng thêm 4 năm lưu đày sau đó, vì một bức thư ông viết gửi các bạn bày tỏ quan điểm chống lại chủ nghĩa áp bức người dân của hung thần Josef Stalin. Năm 1965 các tác phẩm của ông bị cấm lưu hành ở Liên Sô. Được phiên dịch và xuất bản ở nước ngoài, các tác phẩm này lại khiến ông bị bắt giữ năm 1974, bị tước bỏ quyền công dân và bị trục xuất ra xứ ngoài. Tác phẩm của Solzhenitsyn là những bản cáo trạng tố cáo tội lỗi của đảng CS Liên Sô, "26 Năm Lưu Đày" của Thượng Tọa Thiện Minh cũng đã trình bày những nỗi ô nhục, những vết nhơ đày đọa nhân dânViệt Nam, thử tượng cảnh tên Sáu Búa đập đầu bà lão đến chết bằng búa, chỉ vì nghi ngờ bà làm điềm chỉ viên cho bên quân đội VNCH. Bao nỗi oan khiên cho dân tộc Việt Nam phải hứng chịu ách Cộng Sản cai trị quê hương oan khiên của chúng ta.

Đọc tác phẩn "26 Năm Lưu Đày" để thấu hiểu những chuổi ngày dài tù tội, để cảm thông với tác giả về những kinh hoàng trên thân xác, những đọa dày về tinh thần. Đọc tác phẩn "26 Năm Lưu Đày" để hiểu rằng những khổ đau của thế giới từ Nelson Mandela đến Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn, tôi xin đề nghị hãy kể thêm những khổ đau của tăng sĩ Thích Thiện Minh hay kẻ sĩ Huỳnh Văn Ba. Tôi cho là vậy: Người chiến sĩ nhân quyền thật đáng kính trọng.

Trần Việt Hải,
Mùa Xuân 2008.

Friday, December 2, 2016




HỘI ĐỒNG LIÊN KẾT QUỐC NỘI HẢI NGOẠI VIỆT NAM
TÂM THƯ KÊU GỌI THAM GIA CHIẾN DỊCH ĐÒI NHÂN QUYỀN
VÀ VẸN TOÀN LÃNH THỔ CHO VIỆT NAM NHÂN KỶ NIỆM NGÀY QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN LẦN THỨ 68
--------------------------------------
Kính gửi
- Quý vị Lãnh Đạo tinh thần các Tôn giáo.
- Quý vị Đại Diện các đòan thể đấu tranh, cộng đồng, hội đòan.
- Quý Cơ Quan truyền thông báo chí người Việt Tự Do.
- Quý Đồng Bào tại quốc nội và hải ngoại
Kính thưa Quý Vị,
Cách đây 68 năm vào ngày 10 tháng 12 năm 1948, Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đã được Liên Hiệp Quốc công bố nhằm đề cao, cổ vũ và bảo vệ quyền căn bản của con người trên toàn thế giới. Bản Tuyên Ngôn khẳng định: Mọi người sinh ra được tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, được hưởng những quyền tự do căn bản không phân biệt chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay tư tưởng, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không ai có thể bị bắt giữ, giam cầm hay lưu đầy một cách độc đoán; ai cũng có quyền được một toà án độc lập và vô tư xét xử một cách công khai và công bằng về những quyền lợi, nghiã vụ hay những tội trạng hình sự bị cáo buộc v.v…
Điều khoản cuối cùng của bản Tuyên Ngôn còn viết: "Không (ai) được phép diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong Bản Tuyên Ngôn này theo hướng ngầm cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào tham gia hoặc có hành vi nhằm tước bỏ bất cứ quyền tự do nào nêu trong Bản Tuyên Ngôn này".

Như vậy, các quốc gia khi gia nhập tổ chức Liên Hiệp Quốc đều có bổn phận tôn trọng và thực hiện bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như một mẫu mực nhằm mang lợi ích thiết thực cho quốc gia và dân tộc của mình.

Tuy nhiên tại Việt Nam, đảng Cộng Sản đã áp đặt một nền cai trị độc tài độc đảng vô thần trên miền Bắc năm 1954 và toàn cõi Việt Nam năm 1975, tước đoạt các quyền tự do căn bản của người dân nhất là quyền tự do tôn giáo, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do lập hội... Sau khi gia nhập Liên Hiệp Quốc tháng 1, 1977 và trở nên thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền LHQ năm 2013, cho đến nay nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam vẫn không tôn trọng bản Tuyên Ngôn Quốc Tế này, vẫn tiếp tục đàn áp, khủng bố các Chức Sắc và Tín Đồ Tôn Giáo chơn truyền, trấn áp các nhà tranh đấu ôn hòa cho tự do dân chủ, cho nhân quyền và cho sự vẹn toàn lãnh thổ Việt Nam. Nhà cầm quyền CSVN hiện vẫn giam giữ và hành hạ rất nhiều Tù Nhân Lương Tâm trong đó có MS Nguyễn Công Chính, các tín đồ Tôn giáo sắc Tộc, LS Nguyễn Văn Đài, Ông Trần Huỳnh Duy Thức, Blogger Nguyễn Hữu Vinh (Ba Sàm), Nguyễn Đình Ngọc (Nguyễn Ngọc Già), Bà Bùi Thị Minh Hằng, Bà Cấn Thị Thêu (vừa bị kết án 20 tháng tù ở ngày 30-11-2016), bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm), BS Hồ Hải, Ông Trần Anh Kim, Lê Thanh Tùng, Ông Lưu Văn Vinh, Ông Nguyễn Văn Đức Độ và nhiều người khác nữa. Gần đây, nhà cầm quyền CSVN đã thông qua luật Tín Ngưỡng và Tôn Giáo chỉ nhằm mục đích khống chế các Tôn giáo chặt chẽ hơn. Ngày 8 tháng 9, 2016, nhà cầm quyền đã cưỡng chế và phá hủy Chùa Liên Trì, một cơ sở của Phật Giáo đã tồn tại trên 70 năm tại Thủ Thiêm, Việt Nam bất chấp sự phản đối của dư luận quốc tế.
Trong lúc đó, nhà cầm quyền CSVN đã làm ngơ trước nỗi thống khổ đói nghèo của Đồng Bào miền Trung sau thảm họa ô nhiễm môi trường do tập đoàn Formosa gây ra, lại còn ngăn cản và đàn áp nạn nhân đòi công lý về những thiệt hại to lớn cho đời sống và sức khỏe. Ngoài ra hàng ngàn, hàng vạn Dân Oan hiện sống trong cảnh lầm than, thống khổ, hoặc bị tù đày vì tranh đấu chống bất công, chống cướp đoạt tài sản đất đai ruộng vườn và chống áp bức gây ra bởi bọn cường hào đỏ từ nhiều năm qua…

Kính thưa toàn thể quý vị,
- Trước hoàn cảnh Đất Nước và nỗi đau trầm thống của Tổ Quốc và Dân Tộc,
- Trước nguy cơ mất Nước về tay Trung Cộng đã quá gần kề và ngày càng lộ rõ,
Chúng tôi, Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam khẩn thiết kêu gọi toàn thể Đồng Bào trong và ngoài Nước nhân ngày Quốc Tế Nhân Quyền lần thứ 68:
1- Tổ chức và tham gia các cuộc gặp mặt, biểu tình, thắp nến, tuyệt thực, tọa kháng, - tùy hoàn cảnh và thời gian- nhằm tố cáo trước công luận thế giới chính sách bóp chết nhân quyền của nhà cầm quyền CSVN, đồng thời nói lên khát vọng của toàn dân đòi Quyền Làm Người cho Dân Tộc Việt Nam.
2- Lập kiến nghị, kháng thư, gặp gỡ các Cơ Quan Quốc Tế Nhân Quyền, các Chính Phủ, các Tòa Đại Sứ các Quốc Gia dân chủ, thỉnh cầu họ dùng ảnh hưởng và quyền hạn của mình nhằm:
a. Hỗ trợ cuộc tranh đấu của Nhân Dân Việt Nam đòi tự do dân chủ, đặc biệt cuộc tranh đấu đòi công lý môi trường tại miền Trung.
b. Áp lực buộc CSVN trả tự do thật sự cho các Vị Lãnh Đạo tinh thần các Tôn Giáo, các Nhà tranh đấu vì dân chủ, các Nhà bất đồng chính kiến cùng các Tù Nhân Lương Tâm hiện còn bị giam cầm hay quản chế một cách độc đoán.
Nhân dịp này, chúng tôi kính mời quý vị tham dự ngày Quốc Tế Nhân Quyền được tổ chức tại trụ sở Liên Hiệp Quốc thành phố New York, Hoa Kỳ vào những ngày 9 và 10 tháng 12 năm 2016 với lịch trình như sau:
- Ngày 9/12/2010 từ 10 giờ sáng đến 3 giờ 30 chiều: Tiếp xúc và đạo đạt Thỉnh Nguyện Thư đến Văn Phòng Cao Ủy Nhân Quyền LHQ và Văn Phòng các Phái Bộ các Quốc Gia bên cạnh LHQ như Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Anh, Canada…
- Ngày 10/12/2010 từ 1 giờ đến 3 giờ 30 chiều: Biểu tình tố cáo và lên án nhà cầm quyền CSVN về hành động chà đạp nhân quyền tại Việt Nam, trước trụ sở Liên Hiệp Quốc, Ralph Bunche Park, 1st Ave. Bet. E.42nd St and E 43rd St. Manhattan, NY.
Kính thưa toàn thể Đồng Bào,

Với những biến động sâu xa hiện nay tại quốc nội và quốc tế, chúng ta quyết chọn Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10 tháng 12 năm 2016 này là khởi điểm cho một chu trình đấu tranh mới, giương cao ngọn cờ Tự Do, Dân Chủ và Nhân Bản để cứu nguy Đất Nước.
Vì tiền đồ và vinh quang của Tổ Quốc, vì tương lai Dân Tộc và sự tồn vong của Nòi Giống, một lần nữa, Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam ước mong toàn thể Đồng Bào hưởng ứng và tích cực tham gia đông đảo trong niềm tin tất thắng để dựng lại một nước Việt Nam Độc Lập, Tự Do, Dân Chủ, An Lạc và Phú Cường.
Làm tại Việt Nam và Hải Ngoại, ngày 30 tháng 11 năm 2016
TM. Ủy Ban Thường Trực Hội Đồng Liên Kết QNHNVN
•Cố vấn: LM Nguyễn Văn Lý – Hòa Thượng Thích Minh Tuyên.
•Các đồng Chủ Tịch:
- HT. Thích Không Tánh (Phật Giáo), Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.
- LM. Phan Văn Lợi (Công Giáo): Đồng ChủTịch Hội Đồng Liên Tôn VN.
- CTS. Hứa Phi (Cao Đài Chơn Truyền), Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.
- Đạo Huynh Lê Văn Sóc (PGHH Thuần Túy), Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.
- MS. Nguyễn Hoàng Hoa (Tin Lành), Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn VN.
- BS. Võ Đình Hữu, Chủ Tịch HĐĐB Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.
- BS. Đỗ văn Hội, Chủ Tịch HĐCH Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.
- Nhân sĩ Lưu văn Tươi, Chủ Tịch HĐGS Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ.
- Nhân sĩ Nguyễn văn Tánh, Chủ Tịch UB Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế, Cố Vấn CĐNVQGLBHK.
- Nhà Biên Khảo Phạm Trần Anh, CT Diên Hồng Thời Đại.
- Phó Trị Sự Trần Viết Hùng, TTK Liên Hiệp Hội Thánh Em và Tín Đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh Hải Ngoại.
- Nhân sĩ Cao Xuân Khải, PCT Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Tôn Giáo Việt Nam.
- Nhân sĩ Trần văn Đông, Ban Kiểm Soát Liên Hội Người Việt Canada (Nguyên TTK).
- Nhân sĩ Trần Ngọc Bính (Ban Yểm trợ Truyền Thông Khối 8406).
- BS Hoàng Thị Mỹ Lâm, CT Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn Cộng Hòa Liên Bang Đức.
LIÊN LẠC:
Email: LienlacQnHn@gmail.com – Website: LienketQnHn.org
Ông Nguyễn Văn Tánh: 347-481-8283; tanhnguyen1947@yahoo.com
BS Đỗ Văn Hội: 407-234-3596; hoivando@gmail.com
Cô Tara Thu: 917-862-9969; Tarathu@gmail.com
Đính kèm: Thư mời tham dự ngày Quốc Tế Nhân Quyền 2016 tại New York.
(Xin quý vị vui lòng phổ biến rộng rãi lời kêu gọi này. Thành thật cám ơn).

Nhật Ký Biển Đông: Thế Giới Nín Thở Chờ Đợi Ô. Trump
Đào Văn Bình

Nhật Ký Biển Đông hai tuần cuối Tháng Mười Một ghi nhận sự những biến chuyển quan trọng như sau:

Tình hình thế giới:

- Al Jazeera ngày 19/11/2016: “Tổng Thư Ký NATO trấn an các đồng minh đã kinh động vì những lời tuyên bố của tổng thống đắc cử Hoa Kỳ là NATO đã lỗi thời. Và rằng NATO rất quan trọng cho sự ổn định của Âu Châu mà sự ổn định của Âu Châu cũng quan trọng cho Hoa Kỳ. Ô. Jens Stoltenberg nói trước một khối nghiên cứu tại Brussels rằng ông tin tưởng Tổng Thống Donald Trump sẽ duy trì cam kết mạnh mẽ với NATO.”

- Reuters ngày 20/11/2016: “Tổng Thống Thổ Nhĩ Kỳ Erdogan nói rằng Thổ không cần gia nhập Liên Hiệp Âu Châu bằng mọi giá và có thể tham gia khối an ninh bao gồm các nước Trung Á, Trung Quốc và Nga. Viễn ảnh Thổ, một thành viên của NATO gia nhập EU càng xa vời sau 11 năm thương thảo. Các nhà lãnh đạo Âu Châu đã kịch liệt chỉ trích thành tích dân chủ nhân quyền của Thổ. ”

- Reuters ngày 20/11/2016: “Thủ Tướng Nhật Abe nói rằng con đường đi đến thỏa hiệp hòa bình với Nga đang ở trước mắt, làm gia tăng hy vọng về sự tiến bộ rõ rệt để giải quyết mối tranh chấp lãnh thổ kéo dài nhiều thập niên và sẽ được giàn xếp trong cuộc họp thượng đỉnh tại Nhật Bản giữa Tháng 12. Ô. Abe đã đưa ra lời tuyên bố này sau khi có cuộc họp bên lề Thượng Đỉnh APEC với Ô. Putin và ông nói thêm, tiến triển sẽ từ từ và không phải là bước nhảy vọt.”
Hiện nay Nhật Bản có nhu cầu cấp bách hòa hoãn với Nga hầu đối phó với Trung Quốc - một tiến trình bị Mỹ ngăn cản nhiều năm-.

- AP ngày 22/11/2016: “Thông tấn xã Interfax cho biết Nga vừa triển khai loại hỏa tiễn diệt hạm tối tân nhất tại quốc gia nằm ở cực tây của vùng Baltic, giữa lúc căng thẳng giữa Nga-Tây Phương gia tăng. Thông tấn xã Interfax nói rằng quân đội Nga đã đưa hỏa tiễn diệt hạm Bastion vào tác chiến tại Kaliningrad bao bọc biên giới hai quốc gia Ba Lan và Lithuania. Bộ Quốc Phòng Nga nói rằng cuối tuần rồi, Hạm Đội Baltic đã được trang bị hệ thống phóng hỏa tiễn mới nhưng không nói rõ chi tiết.”
Sở dĩ căng thẳng gia tăng là vì NATO nói rằng Nga đe dọa các quốc gia Đông Âu và Vùng Baltic. Còn Nga thì nói rằng NATO chủ trương đem quân sát tới biên giới Nga và tập trận liên miên.

- CNN ngày 22/11/2016: “200 lính Mỹ và lính Trung Quốc sẽ tiến hành một cuộc tập trận chung trong vài ngày để đối phó với các thiên tai tại Côn Ninh.”
Không biết Mỹ chơi trò gì đây khi vừa kiềm chế Trung Quốc lại vừa tập trận chung và chiến hạm của hai nước ghé các cảng để thăm viếng nhau. Nếu mai đây Hoa Lục và Phi Luật Tân tiến hành tập trận chung tại Biển Đông không biết Mỹ có lên tiếng phản đối không?

- AP ngày 23/11/2016: “Kết thúc chuyên thăm Mông Cổ bốn ngày, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng Ngài không lo lắng chi đến chuyện Ô. Trump đắc cử tổng thống và hy vọng rằng chính sách của nhà kinh doanh này sẽ phù hợp với thực tế.”

- AP (Tokyo) ngày 22/11/2016: “Tổng thống đắc cử Donald Trump nói rằng ông sẽ rút lui khỏi Hiệp Định Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương (TTP) nhưng các lãnh đạo của Vành Đai Thái Bình Dương lại muốn đẩy mạnh nỗ lực mở rộng thị trường mà họ cho rằng sống còn cho sự phát triển. Việc TTP bao gồm 12 quốc gia có thể bị Mỹ bỏ rơi tạo thêm sức đẩy cho một thỏa hiệp tương tự do Trung Quốc đề xướng mà Hoa Kỳ không có chân trong đó.” Theo San Francisco Chronical ngày 22/11/2016, Thủ Tướng Nhật Bản Abe nói rằng Hiệp Định TPP mà không có Mỹ thì hoàn toàn vô nghĩa.

- Washington Post ngày 23/11/2016: “Trung Quốc phản công lại đe dọa của Tổng Thống Tân Cử Donal Trump là sẽ dùng cấm vận để lấy lại lợi thế cạnh tranh thương mại cho Hoa Kỳ. Trong chiến dịch tranh cử Ô. Trump đe dọa áp đặt thuế xuất 45% trên sản phẩm nhập cảng từ Trung Quốc và nói rằng Trung Quốc là quốc gia nhào nặn hối xuất (hạ giá) đồng bạc.”

- AP ngày 24/11/2016: “Tổng Thống Thổ Nhĩ Kỳ Erdogan khẳng định rằng nhiều thành phần tại Hoa Kỳ và Âu Châu đã gán ghép cho Tổng Thống Đắc Cử Donald Trump là độc tài chỉ vì ông không phải là ứng cử viên mà họ ưa thích. Ô. Erdogan kêu gọi họ tôn trọng dân chủ.”

- AP (Budapest) ngày 25/11/2016: “Thủ Tướng Hung Gia Lợi cho biết ông đã nói chuyện qua điện thoại với Tổng Thống Tân Cử Donald Trump và Ô. Trump đã mời ông thăm Hoa Thịnh Đốn. Thủ Tướng Viktor Orban trong một cuộc phỏng vấn được đưa lên nhật báo thương mại Hung Gia Lợi cho biết Ô. Trump đã nói với ông rằng Ô. Trump coi trọng Hung Gia Lợi. Ô. Orban thường xuyên chỉ trích các giới chức Hoa Kỳ đang làm suy yếu hệ thống “kiểm soát và cân bằng” (check and balance) từ khi ông nắm quyền vào năm 2010 và vào Tháng Bảy ông đã nói rằng chính sách di dân của Ô. Trump tốt hơn cho Âu Châu và Hung Gia Lợi. Ô. Orban đã dựng hàng rào tại biên giới phía nam để ngăn là sóng di dân tràn vào Tây Âu và ông cảm thấy vị trí của Hung Gia Lợi cải thiện rất nhiều với Ô. Trump.”

- Reuters ngày 26/11/2016: “Bộ Quốc Phòng Ba Tư cho biết họ dự trù mua phi cơ chiến đấu Sukhoi Su-30 của Nga để hiện đại hóa không quân và nói thêm rằng Tehran có thể lại cho phép Nga sử dụng phi trường trong các chiến dịch không kích của Nga ở Syria.
Tôi không đồng ý với Ô. Obama về chính sách do dự trong việc đối phó với Hoa Lục tại Biển Đông nhưng tôi lại đồng ý với ông về thỏa hiệp hạt nhân ký kết với Ba Tư trong đó có sự can dự của sáu cường quốc Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Đức và Trung Quốc. Trong tình thế hiện tại, Ô. Trump khó lòng hủy bỏ thỏa hiệp mang tính quốc tế để chiều theo áp lực của Do Thái tái áp đặt lệnh cấm vận lên Ba Tư. Làm như vậy cũng là hành vi bội ước và trực tiếp gây chiến với Ba Tư. Chính vì thế mà trong lúc tranh cử, khi Ô. Trump đưa ra lập trường này và coi NATO đã lỗi thời, nhiều nhân vật đã từng nắm giữ các chức vụ an ninh cũng như quốc phòng của Đảng Cộng Hòa đã cảnh báo Ô. Trump là người nguy hiểm cho an ninh của Mỹ và nền hòa bình thế giới. Trong khi Ô. Trump chống đối cuộc chiến tranh Iraq và muốn hợp tác với Nga để giải quyết cuộc chiến Syria, nếu ông lại tạo thêm một cuộc chiến với Ba Tư- một cuộc chiến nguy hiểm gấp bội so với Iraq, Syria và Afghanistan thì đúng ông là người bất thường và nguy hiểm cho nước Mỹ, trong đó có Ô. John McCain là nhân vật hiếu chiến chủ trương tái cấm vận Ba Tư.

Không biết Ô. Trump có hiểu rằng hiện nay Ba Tư đang liên kết chặt chẽ về quốc phòng với Hoa Lục và Nga? Ba Tư đã lên tiếng đe dọa sẽ tấn công tất cả những nước nào có căn cứ quân sự của Mỹ như Ả Rập Sê-út, Qatar, Thổ Nhĩ Kỳ…nếu Hoa Kỳ gây chiến với Ba Tư. Do đó, một cuộc chiến với Ba Tư sẽ là cuộc chiến toàn cầu chứ không phải cuộc chiến khu vực và sẽ là thảm họa cho Hoa Kỳ trong lúc Hoa Kỳ đang dính líu vào năm cuộc chiến tại Iraq, Afghanistan, Syria, Lybia và Yemen và trong lúc nội tình Hoa Kỳ đang chia rẽ trầm trọng. Theo The Huffington Post ngày 27/11/2016, chỉ nội cuộc chiến Afghanistan kéo dài 16 năm đã là gánh nặng cho Ô. Trump rồi, “Hoa Kỳ đã tốn kém 115 tỉ đô-la cho cuộc chiến kéo dài nhất lịch sử nước Mỹ. Cuộc chiến đã lấy đi sinh mệnh của 1,865 lính Mỹ, làm bị thương 20,224 người (tính tới 16/11/2016) và rất nhiều chấn thương làm tan nát cuộc đời cựu chiến binh. Thế mà mục tiêu chính do Tổng Thống Bush Con và Obama đặt ra vẫn chưa đạt được. A Phú Hãn đang thất bại.” (The United States has spent $115 billion on this longest war in its history. The conflict has taken the lives of 1,865 Americans and wounded 20,224 (as of Nov. 16), many with life-shattering injuries. Yet the main goals set forth by Presidents George W. Bush and Barack Obama havent been achieved: Afghanistan is failing.)

Cựu Ngoại Trưởng Henry Kissinger cách đây ít lâu có nói rằng đời ông đã chứng kiến bốn cuộc chiến tranh của Mỹ, khởi đầu thì hăng hái lắm nhưng cuối cùng không biết kết thúc thế nào. Có lẽ rồi đây với nhiệm kỳ bốn năm Ô. Trump cũng không thể kết thúc cuộc chiến Afghanistan trong danh dự ngoại trừ giái pháp ký một thỏa hiệp “hòa bình” với Taliban giống như Hòa Đàm Paris 1973 rồi rút hết quân, mặc cho số phận của chính quyền Kabul muốn ra sao thì ra. Hoặc tái lập một liên minh quốc tế giống như lúc đầu (2001) bao gồm Mỹ, NATO, Úc Đại Lợi, Gia Nã Đại, Tân Tây Lan đổ khoảng hai, ba trăm ngàn quân vào, trực diện và tiêu diệt hết phe Taliban rồi ở lại khoảng năm, mười năm nữa để giữ an ninh và bảo vệ cho chế độ Kabul rồi sau đó rút quân. Nhưng không biết Quốc Hội, dù đang do Cộng Hòa nắm giữ và dân chúng có ủng hộ giải pháp này không. Cuộc chiến A Phú Hãn và Iraq giống như cái rọ, con cá chui vào thì dễ nhưng không thể nào ra thoát vì cuộc chiến nơi đây vừa là “thánh chiến” vừa ý thức hệ vừa là thanh lọc sắc tộc vô cùng phức tạp. Ô. Bush Con đã để lại một di sản nhức nhối cho nước Mỹ.

Do đó Ô. Trump phải hết sức thận trọng. Giai đoạn “cường điệu và kích động” (rhetoric) để lấy lòng cử tri đã qua. Bây giờ ông đã là tổng thống. Trách nhiệm của ông là đem lại thịnh vượng cho nước Mỹ và bảo vệ an ninh, hòa bình cho toàn thế giới chứ không phải tạo nên thảm họa cho thế giới. Chính vì hiểu được tầm mức quan trọng của thỏa hiệp hạt nhân với Ba Tư, Ô. Obama đã phải nhắc nhở Ô. Trump nhiều lần về vấn đề này. Theo tôi nghĩ, chỉ nội chuyện kéo các đại công ty tư bản từ Hoa Lục và Mễ Tây Cơ trở về Mỹ để tạo công ăn việc làm cho tầng lớp công nhân đã bỏ phiếu cho ông đã là muôn vàn khó khăn, huống chi lại tạo thêm những cuộc khủng hoảng. “America First” cũng có nghĩa là Hoa Kỳ không thể chết thế hoặc hy sinh tất cả cho tham vọng của Do Thái. Hãy tập trung nỗ phục hồi nền kinh tế, tạo công ăn việc làm cho dân chúng, đoàn kết đất nước, trước khi có những phiêu lưu trên mặt trận đối ngoại. Đừng coi thường sức mạnh tiềm tàng của Đảng Dân Chủ đang như con hổ bị thương và 90% hệ thống truyền thông lúc nào cũng sẵn sàng chống đối và nhận chìm ông.

- The Phnom Penh Post ngày 26/11/2016: “Hôm qua, Thủ Tướng Hunsen và Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ký một văn thư yêu cầu chính phủ Pháp hỗ trợ về mặt chuyên môn qua việc in lại bản đồ biên giới Miên-Việt thời thuộc địa với một tỷ lệ lớn hơn để giúp phân định biên giới.”

Đây cũng là giải pháp tốt đẹp phần nào giải quyết những phức tạp của biên giới Miên-Việt do lịch sử để lại khi ba nước Việt-Mên-Lào là một dưới thời Thực Dân Pháp. Dưới thời thuộc địa, tiền bạc xài chung, công chức, nông dân kể cả thương buôn qua lại biên giới để làm việc, buôn bán, cày cấy, lấy vợ lấy chồng giống như trong một nước vậy. Nay một nhóm chính trị gia hoạt đầu Miên có khuynh hướng “bài Việt” kích động tự ái dân tộc, chụp mũ cho chính quyền “bán đất” cho Việt Nam khiến gây căng thẳng và nguy hiểm cho hai nước mà có thể có “bàn tay lông lá” Hoa Lục đứng sau lưng.

- Reuters ngày 29/11/2016: “Nữ Tổng Thống Nam Hàn Phác Cận Huệ đã yêu cầu quốc hội quyết định xem khi nào và bằng cách nào bà có thể từ chức do vụ tai tiếng khuynh loát quyền hành, đẩy đất nước vào cuộc khủng hoảng chính trị chưa từng thấy khiến cả triệu người xuống đường phản đối. Đảng Dân Chủ - đảng đối lập chính - bác bỏ yêu cầu này và gọi đó là âm mưu né tránh bị truất phế và sẽ tiếp tục thúc đẩy việc luận tội tại quốc hội vào Thứ Sáu này.”

Phải chăng đây là sự vận hành của tự do dân chủ hay sự hư đốn của nhân cách lãnh đạo khiến đất nước Đại Hàn đi vào hỗn loạn giống như Thái Lan. Đảng nắm quyền thì lo củng cố quyền lực bằng mọi cách, đảng đối lập thất cử thì lo chống phá. Rồi khi nắm được quyền rồi, đảng đối lập lại hư đốn giống như kẻ tiền nhiệm của mình. Và cái vòng luẩn quẩn xoay quanh miếng mồi ngon “quyền lực và quyền lợi” đó cứ tiếp diễn mãi. Còn dân chủ, tự do chỉ là chiêu bài để chính thống hóa cho quyền lực. Dường như nhân loại bây giờ, các chính trị gia đều hùng biện và mỵ dân giỏi, nhưng tìm được người yêu nước thương nòi, kinh bang tế thế, trong sạch…thì hiếm hoi như lá mùa thu.
Tình hình Syria:
- AFP ngày 20/11/2016: “Bộ Ngoại Giao Syria tuyên bố sẽ không chấp nhận một đề nghị của Liên Hiệp Quốc công nhận một vùng tự trị cho phe phiến quân tại đông Aleppo như một phần của thỏa hiệp ngưng bắn.”
Đây là một đề nghị vô cùng lạ đời, rõ ràng thiên về phe nổi dậy do Mỹ và Tây Phương hỗ trợ. Nếu đề nghị được thực hiện tức chia cắt đất nước Syria và đó không phải là nhiệm vụ của Liên Hiệp Quốc. Liên Hiệp Quốc phải đóng vai trung gian hòa giải, gửi lực lượng gìn giữ hòa bình, cứu trợ và không thiên vị bất cứ quốc gia, phe phái nào.

- VOA News ngày 23/11/2016: “Tổng Thống Ai Cập al-Sissi nói rằng việc đất nước ông ưu tiên hỗ trợ cho chế độ của Ô. Assad để chống lại những phần tử cực đoan là cần thiết cho sự ổn định của khu vực.” Như vậy Ai Cập đã từ bỏ lập trường đứng trong liên quân Ả Rập do Saudi Arabia lãnh đạo tiến vào Syria để lật đổ Tổng Thống Assad.

- Reuters (Beirut) ngày 26/11/2016: “Tin tức từ phe nổi dậy, chính phủ và nhóm quan sát viên cho biết quân đội chính phủ đã chiếm giữ những khu vực quan trọng nằm về phía đông Aleppo của phe phiến quân nhưng những cuộc giao tranh dữ dội vẫn tiếp diễn để tranh giành những khu vực đông dân cư còn lại.” ABC News nhận định rằng, cuộc chiến Aleppo sẽ quyết định toàn bộ cuộc chiến Syria và dường như chiến thắng đang ngả về phe chính phủ.

Tình hình Biển Đông:
-

 Reuters ngay28/11/2016: “Trung Quốc lo ngại về việc Phi Luật Tân bắt giữ 1200 Hoa Kiều trong chiến dịch truy quét nạn cờ bạc trên mạng lưới điện tử khiến có thể gây căng thẳng khi bang giao giữa hai quốc gia trở nên nồng ấm trong mấy tháng vừa qua. Theo Sở Di Trú Phi Luật Tân, 1200 Hoa Kiều làm việc tại Căn Cứ Không Quân Clark trước đây của Hoa Kỳ nghi ngờ là tổ chức cờ bạc.”
Không phải nói xấu người Trung Hoa. Đất nước Trung Hoa cổ là đất nước vĩ đại. Nhưng Ba Tàu đi đến đâu đều mang theo tật xấu như hối lộ chính quyền, tổ chức ăn chơi trác táng như “nhất dạ đế vương”, cờ bạc, đầu cơ tích trữ, buôn gian bán lận và ăn ở bẩn thỉu, nhất là các nhà hàng.

- International Busisness Times ngày 24/11/2016: “Tổng Thống Phi Luật Tân Duterte thúc giục Hoa Lục ban hành lệnh cấm đánh cá tại Bãi Cạn Panatag/Scarborough Shoal hiện còn đang tranh chấp. Tổng thống Phi Luật Tân dường như đã sẵn sàng đơn phương ban hành sắc lệnh cấm đánh cá tại vùng bãi cạn giàu tài nguyên này. Ô. Duterte nói rằng không kể vùng bãi cạn là của ai, bảo vệ nó là việc làm hợp lý.” Theo Reuters, Hoa Lục đang suy nghĩ về việc để ngư dân Phi Luật Tân ra vào vùng bãi cạn này với lý do bang giao giữa hai nước đã được cải thiện.

- VOA News (ThiTu Island) ngày 24/11/2016: “Phi Luật Tân sẽ xây một hải cảng tại Biển Đông vào năm tới nhằm củng cố tuyên bố chủ quyền của mình tại vùng biển này. Hành động chắc chắn đưa tới phản ứng của các nước cùng tuyên bố chủ quyền tại đây, nhất là Trung Quốc. Thế nhưng Ô. Eugenio Bito-onon-cựu thị trưởng của thị trấn Kalayaan nhỏ nhất tại Quần Đảo Trường Sa nói rằng hải cảng sẽ thuận tiện cho 200 dân trên Đảo Thị Tứ, phần lớn là 200 ngư dân và 50 lính Phi luân phiên đóng tại đây. Hải cảng sẽ là bến đậu cho tầu đánh, tàu tuần tra và cả thuyền du ngoạn (yacht).”

- Reuters ngày 18/11/2016: “Theo một tổ hợp nghiên cứu (think tank) tại Hoa Kỳ, Việt Nam đã mở rộng một phi đạo trên Trường Sa Lớn thuộc chủ quyền của mình tại Biển Đông, hiển nhiên là để đáp ứng lại việc xây dựng các cơ sở quân sự của Trung Quốc trong vùng. Những hình ảnh ghi nhận được từ vệ tinh cho thấy tháng vừa qua Việt Nam đã kéo dài một phi đạo ở Trường Sa Lớn, từ 760 mét ra 1200 mét. Tổ hợp nghiên cứu cũng nói rằng đường băng kéo dài có thể được sử dụng cho các máy bay vận tải, tuần thám và phi cơ chiến đấu. ”

Trung Quốc đã kết án hành động này. Theo tôi, đây là thái độ “vừa đánh trống vừa ăn cướp”. Việc Trung Quốc biến cải các bãi đá ngầm là vi phạm luật pháp quốc tế và hủy hoại môi trường như phán quyết của Tòa Hague. Còn việc mở rộng một hòn đảo đã có sẵn là việc làm hợp pháp và không hủy hoại môi trường. Hai việc đó hoàn toàn khác nhau. Vả lại việc mở rộng Đảo Trường Sa Lớn không đe dọa an ninh bất cứ quốc gia nào trong vùng cho dù Việt Nam có bố trí hỏa tiễn phòng không, diệt hạm trên đó. Xin nhớ cho Biển Đông không phải biên cương hay biên giới của Trung Quốc. Trung Quốc đã dựa vào một bản đồ điên khùng vẽ bậy từ thời Tưởng Giới Thạch (1947) rồi căn cứ vào đó khẳng định lãnh thổ của mình và đã bị Tòa Hague bác bỏ. Vùng Trường Sa là của Việt Nam và một phần của Phi Luật Tân, dứt khoát Hoa Lục hay Đài Loan không thể “xí phần” hay có tiếng nói tại đây.

- Popular Mechanics ngày 18/11/2016: “Cơ quan truyền thông của chính phủ Trung Quốc báo cáo rằng hàng không mẫu hạm đầu tiên mang tên Liêu Ninh đã ở vào vị thế sẵn sàng chiến đấu. Tuy nhiên dù nói mạnh như thế nhưng các bằng chứng cho thấy chiếc HKMH duy nhất này chỉ có khả năng huấn luyện và khả năng chiến đấu thì rất kém.”
Chưa biết khả năng tác chiến của nó tồi như thế nào, thế nhưng nếu nó nghênh ngang ở Biển Đông thì ngoại trừ Hoa Kỳ và Nhật Bản, các quốc gia Đông Nam Á sẽ “ớn da gà” vì hỏa lực hùng hậu của nó.

- Reuters ngày 18/11/2016: “Thủ Tướng Nhật Bản Abe mô tả Ô. Donald Trump là một lãnh tụ đáng tin cậy sau khi gặp gỡ vị tổng thống đắc cử vào ngày 17/11/2016 để làm sáng tỏ tuyên bố của Ô. Trump trong khi tranh cử khiến gây lo ngại cho các đồng minh. Sau cuộc họp vội vã kéo dài 90 phút tại Trump Tower, Khu Manhattan, Ô. Abe nói với các ký giả rằng cuộc nói chuyện khiến tôi tin tưởng rằng chúng ta có thể xây đắp sự tin cậy nhưng không cho biết thêm chi tiết vì đây không phải là cuộc hội kiến chính thức. Còn Ô. Trump trên Facebook, kèm theo tấm hình của hai người đã viết rằng thật vui có Thủ Tướng Abe ghé thăm nhà và cũng là khởi đầu của tình bạn lớn.” Tuy nhiên theo San Francisco Chronical ngày 22/11/2016, “Lo ngại tại Nhật Bản gia tăng về việc Ô. Trump có thể thi hành những điều ông nói trong lúc tranh cử là Nhật Bản phải đóng góp thêm cho 50,000 lính Mỹ đóng tại Nhật Bản theo thỏa hiệp an ninh hỗ tương. Hiến pháp hòa bình của Nhật được soạn thảo dưới sự điều khiển của Hoa Kỳ sau Đệ II Thế Chiến trong đó cấm sử dụng quân đội để giải quyết những xung đột quốc tế, nhưng chính quyền Nhật đã giải thích lại bản hiến pháp đó và cho phép Nhật có thể sử dụng quân đội trong một số trường hợp.”

Sau thất bại từ Đệ Nhị Thế Chiến, Nhật Bản là quốc gia vô cùng khôn ngoan. Họ giã từ quan điểm kiêu ngạo mình là con cái của Thái Dương Thần Nữ và trở nên khiên tốn, lấy liên minh Mỹ-Nhật là nền tảng để bảo vệ an ninh và phát triển đất nước. Tôi nghĩ rồi đây Ô. Abe sẽ “chiều lòng” Ô. Trump chút ít để Ô. Trump “lấy điểm” với nhân dân Mỹ rồi mọi chuyện cũng sẽ đâu vào đó. Làm chính trị lớn mà cứng nhắc, không uyển chuyển, không biết mình biết người thì “từ chết tới bị thương”. Còn chuyện Ô. Trump yêu cầu Nhật Bản đóng vai trò quan trọng hơn về quân sự trong vùng cũng không dễ dàng như người ta tưởng. Nếu Nhật Bản chạy đua vũ trang hay gửi chiến hạm tới Biển Đông, có thể nổ ra chiến tranh với Hoa Lục, điều mà Nhật Bản cố tránh. Chiến lược hay nhất vẫn là Nhật Bản cùng với Mỹ giúp cho các nước trong vùng như Việt Nam và Phi Luật Tân mạnh lên về quân sự thì chính họ trở thành rào cản tự nhiên chống lại Hoa Lục. Nay Phi Luật Tân có thể sẽ bỏ Mỹ theo chính sách trung lập, chỉ còn lại Việt Nam. Việt Nam sẽ vẫn là trọng điểm chiến lược trong chính sách Xoay Trục của Mỹ dù Ô. Trump hay Bà Clinton.

- Sputnix News & Reuters ngày 20/11/2016: “Bên lề Thượng Đỉnh APEC (Hợp Tác Kinh Tế Châu Á-Thái Bình Dương) khi gặp gỡ người đồng cấp Nga ở Peru, Tổng thống Phi Luật Tân Rodrigo Duterte đã bày tỏ sự ngưỡng mộ những phẩm chất lãnh đạo của Ô. Vladimir Putin và nói thêm rằng ông Putin là người đại diện cho một đất nước tuyệt vời. Ông Duterte cũng ghi nhận rằng, ngày nay các quốc gia Tây Phương đang cố gắng tấn công và hăm dọa các quốc gia nhỏ bé, điều đó cho thấy sự đạo đức giả của họ. Để lấy ví dụ, ông nêu lên sự hiếu chiến của Mỹ đã gây ra các cuộc xung đột trên thế giới như tại Việt Nam, Hàn Quốc, Iraq và Afghanistan. Ô. Duterte đe dọa theo chân Nga, rút chân ra khỏi Tòa Án Hình Sự Quốc Tế (International Criminal Court) vì đã lên án cuộc chiến chống ma túy của ông.” Theo tin tức mới nhất ngày 28/11/2016, Ô. Duterte đã gọi sự đe dọa của Tòa Án Hình Sự Quốc Tế là “cứt” (bullshit). Theo CNBC ngày 28/11/2016: “Tổng Thống Duterte sẽ gửi bộ trưởng ngoại giao, bộ trưởng quốc phòng đi Nga trước chuyến viếng thăm của ông vào Tháng 12. Trong cuộc phỏng vấn với RT, Ô. Duterte nói rằng ông không sẵn sàng liên minh quân sự với ai nhưng ông mong muốn có mối liên hệ mật thiết với Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh và hợp tác với những người bạn mới là Trung Quốc và Nga để cho thế giới này hòa bình/yên ổn hơn.”

Từ cuộc tiếp đón nồng hậu của Ô. Tập Cận Bình tới những lời chúc mừng nồng nhiệt của Ô. Putin dành cho Ô. Duterte chúng ta thấy nhiều khi trên đời này cách đối xử với nhau - nhất là nước lớn đối với nước nhỏ - vô cùng quan trọng. Đã qua rồi thời kỳ trịch thượng “Tôi viện trợ cho anh thì tôi là ông chủ”. Đôi khi ta mất hết bạn bè cũng chỉ vì ta quá tự cao tự đại. Cũng theo Sputnix News, nhân dịp này Ô. Putin cũng đã có cuộc họp riêng với Ô. Trần Đại Quang điều đó chứng tỏ rằng Nga rất coi trọng Việt Nam, cửa ngõ để Nga tiến vào Đông Nam Á qua Kế Hoạch Viễn Đông. Trong lúc Mã Lai, Thái Lan, Lào và Kampuchia đã ngả theo Hoa Lục, nếu Ô. Trump hủy bỏ Hiệp Định TPP (Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương) để bảo vệ nền kinh tế của mình theo chủ trương “America First” thì chắc chắn Đông Nam Á sẽ vuột khỏi tay Hoa Kỳ.

- Reuters ngày 20/11/2016: “Nhân Thượng Đỉnh APEC tại Peru, trong các cuộc họp riêng với các nhà lãnh đạo Phi Luật Tân và Việt Nam, Chủ Tịch Tập Cận Bình nói rằng những tranh chấp tại Biển Đông cần giải quyết song phương. Lời tuyên bố của Ô. Tập Cận Bình cho thấy các đối thủ của Bắc Kinh muốn các tổ chức quốc tế can dự vào cuộc tranh chấp, trong đó có cả Mã Lai, Đài Loan và Brunei là các quốc gia cùng tuyên bố chủ quyền. Theo các nhà phân tích, Trung Quốc thiên về chiến lược “chia rẽ và chinh phục” thay vì để các đối thủ ngồi chung với nhau. “

Lập luận của Ô. Tập Cận Bình không có gì lạ và đã có từ lâu. Đó là chiến lược “lấy hợp tung để phá liên hoành”. Hoa Lục muốn đàm phán tay đôi với từng nước để không cho “phe thứ ba” ám chỉ Mỹ hay các tổ chức quốc tế can dự vào. Trước đây dưới thời Tổng Thống Aquino, Phi Luật Tân đã dứt khoát không đàm phán tay đôi với Hoa Lục. Nay Ô. Duterte có thể sẽ đàm phán tay đôi với Trung Quốc. Còn Việt Nam, lập trường dứt khoát vẫn là: Cái nào có thể đàm phán song phương thì đàm phán song phương, chẳng hạn như việc phân định lằn ranh ở Vịnh Bắc Việt hoặc vấn đề Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa của Việt Nam. Những vấn đề này không liên quan đến quốc tế. Nhưng còn vấn đề Biển Đông, ngoài việc tranh chấp chủ quyền biển đảo, nó còn liên quan đến sinh mệnh của thế giới tức hải lộ chiến lược, sự hiện diện quân sự đáng sợ của Trung Quốc tại Biển Đông và tương lai có thể áp đặt Vùng Nhận Dạng Phòng Không. Nếu Việt Nam chủ trương đàm phán tay đôi tức đẩy Hoa Kỳ ra khỏi Biển Đông. Sở dĩ ngày hôm nay Hoa Lục e ngại Việt Nam là vì- ngoải khả năng phòng thủ- sau lưng Việt Nam còn có Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc Châu, Ấn Độ và Âu Châu. Nếu Việt Nam đẩy tất cả các thế lực này ra khỏi Biển Đông, tức đứng chơ vơ một mình. Cho nên đối với Việt Nam, quốc tế hóa Biển Đông là chiến lược giữ nước và phát triển đất nước. Đầy Hoa Kỳ ra khỏi Biển Đông là tự sát. Cho nên tôi vẫn duy trì quan điểm là Ô. Duterte hiện đang theo đuổi một chính sách ngoại giao vô cùng nguy hiểm cho bản thân và đất nước ông. Dù quá khứ thực dân tủi nhục và đau buồn, nhưng việc ông liên tục có những lời phát biểu chống Mỹ không phải là hành động khôn ngoan. Trung lập có nghĩa là làm bạn với tất cả các siêu cường. Do đó nếu đã “chống Mỹ” thì không còn trung lập nữa. Hãy nhìn vào quốc gia khổng lồ là Ấn Độ, truyền thống theo chính sách trung lập nhưng không bao giờ chống Mỹ và dĩ nhiên phải cảnh giác với Hoa Lục nhưng cũng không bao giờ công khai bày tỏ lập trường chống Trung Quốc.

Hiện nay tại Biển Đông, Hoa Kỳ đang ở vào vị thế “hạ phong” do tám năm do dự của Ô. Obama. Thế nhưng mất Biển Đông là mất Đông Nam Á. Mất Đông Nam Á là mất luôn Á Châu. Lúc đó Hoa Kỳ sẽ mất luôn vị thế siêu cường và an ninh của Mỹ bị đe dọa. Cho nên bằng mọi giá Hoa Kỳ sẽ phải nắm lấy Biển Đông và theo tôi không một thế lực nào có thể đẩy Hoa Kỳ ra khỏi vùng này. Bất cứ quốc gia nào không hiểu điều đó sẽ phải trả một giá rất đắt.

Nước Mỹ, cứ tám năm hay bốn năm, chính sách đối ngoại sẽ không còn giống như trước nữa. Nước Mỹ dưới sự lãnh đạo của Ô. Trump, chắc chắn thế giới sẽ đổi thay. Mọi người đang nín thở chờ đợi, chưa biết “kiết-hung” thế nào. Chúng ta chờ xem.
Đào Văn Bình

.

Thursday, December 1, 2016


VIỆT TỘC CHỦ NHÂN CỦA TRIẾT  LÝ ÂM DƯƠNG      

Tư Mã Thiên đại biểu cho sử quan chính thống của Hán tộc viết Hoàng Đế, thủ lĩnh cộng chủ của liên minh các bộ lạc là ông Tổ của Hán tộc đứng đầu ngũ đế gồm Hoàng Đế, Đế Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghiêu và Đế Thuấn. Theo “Sử Ký” thì Hoàng Đế (2700-2600 TDL) là tổ tiên lỗi lạc của Hán tộc ở lưu vực Hoàng Hà. Từ đó, các sử gia Hán cho rằng Hoàng Đế là Hiên Viên Hoàng Đế, là hậu duệ của Viêm Đế là người kế thừa triết lý Âm Dương.


      Tự thân triết thuyết Rồng Tiên qua lời trần tình của Bố Lạc với Mẹ Âu Cơ, 50 con theo Mẹ (Âm) lên núi, 50 con theo Cha (Dương) xuống miền biển đã thể hiện lý tương sinh-tương khắc, tinh tuý cốt lõi của triết lý Đông Phương. Truyền thuyết kể lại lời trần tình của bố Lạc với mẹ Âu: “Ta là giống Rồng đứng đầu thuỷ phủ, Nàng là giống Tiên người ở trên đất, vốn không ở lâu dài với nhau được. Tuy khí âm dương hợp lại mà sinh con nhưng giống dòng tương khắc như nước với lửa, khó bề ở lâu dài với nhau dài lâu được…!”. Như vậy ngay từ thiên niên kỷ thứ 3 TDL, lời nói của bố Lạc một lần nữa đã chứng minh Việt tộc là người kế thừa sở đắc triết lý Âm Dương. Sự kiện bố Lạc phân chia bọc trăm trứng ra 2 bộ âm dương vừa tương sinh vừa tương khắc, tuy hai mà lại là một. Lạc Long Quân (Dương) là Rồng ở dưới nước nên dẫn 50 con về về miền sông nước (âm) còn Âu Cơ là Tiên (âm) lại dẫn 50 con lên miền cao rừng núi (Dương) theo đúng nguyên lý Dịch là trong âm có dương, trong dương có âm.


      Sự thực trên đã minh nhiên khẳng định Việt tộc là người thừa kế triết thuyết Âm Dương Dịch Biến Luận khởi từ Phục Hy tới Thần Nông tức Đế Thần của Việt tộc. Sự thật lịch sử này được ghi lại trong sách “Kinh Thư”, phần mở đầu chỉ đề cập đến Nhị Hoàng là Phục Hy và Thần Nông. Việc Kinh Dịch chọn 2 quẻ dành cho 2 con vật Rồng- chim (Tiên) linh thiêng, vật tổ biểu trưng của Việt tộc đã minh nhiên xác định nguồn gốc xuất xứ của Kinh Dịch. Đến đời Chu, Chu văn Vương tiếp thu ảnh hưởng của văn hoá Việt rồi biến cải thành Chu Dịch thiên về bói toán chứ không phải là tinh hoa triết lý Âm Dương Dịch biến luận thể hiện nhân sinh-vũ trụ quan của Việt tộc.


      Các công trình nghiên cứu gần đây về nguồn gốc chữ Việt cổ đã góp phần phục hồi sự thật của lịch sử. Tầm nguyên ngữ nghĩa của chữ Việt cho thấy sách sử cổ TQ viết rất nhiều chữ Việt khác nhau, trong đó có chữ “Việt 易” là chữ Dịch “易”, là mặt trời (“Nhật 日 Việt”). Tự thân ngữ nghĩa này đã xác định Kinh “Dịch 易” là kinh “Việt 易”.[1] “Triết lý Âm Dương hình thành từ thực tiễn đời sống nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á, hai từ “Âm Dương” bắt nguồn từ hai từ “mẹ” và “trời” trong các ngôn ngữ Đông Nam Á (Ina-Yang). Cặp khái niệm “âm dương” với trật tự âm trước dương sau được hình thành trên cơ sở tổng hợp hai cặp khái niệm quan trọng bậc nhất trong cuộc sống của người trồng lúa nước là “mẹ cha” và “đất trời”. Nó mang đậm nét dấu tích của một truyền thống văn hoá trọng nữ Đông Nam Á, khác hẳn truyền thống trọng nam của  Trung Hoa thể hiện qua hai cặp từ “phụ mẫu” và “thiên địa”. Biểu hiện của tư tưởng Âm Dương ngũ hành trong mọi lĩnh vực phong tục, tập quán, truyền thuyết của Việt Nam từ xưa đến nay như những minh chứng cho tính nguyên thủy, tính tự phát của tư tưởng Âm Dương, lưỡng phân lưỡng hợp trong truyền thống văn hoá Việt Nam và Đông Nam Á.”.[2] 

CỘNG ĐỒNG BÁCH VIỆT                                                                                   

HIỆN THỰC LỊCH SỬ                                                                                           

 CỦA TRUYỀN KỲ “TRĂM TRỨNG NỞ TRĂM CON”.


      Chúng ta đang sống trước thềm của thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại nên mỗi khi nghĩ về huyền thoại Rồng Tiên thì thoạt đầu, ai trong chúng ta cũng nghĩ rằng là truyện huyền hoặc, hoang đường. Dù có tự hào là con Rồng cháu Tiên nhưng với ý nghĩ đơn giản của đời thường, chúng ta vẫn hoài nghi vì trên đời làm gì có truyện người đẻ ra trứng, rồi trứng nở ra người?


     Với tất cả tấm lòng và thái độ trân trọng nghiêm chỉnh và với phương pháp nghiên cứu huyền thoại để tự đặt mình vào hoàn cảnh lịch sử thời cổ đại thì những ẩn ý hàm tàng trong huyền thoại sẽ gợi mở sáng tỏ, minh nhiên lý giải những vấn nan khúc mắc tự ngàn xưa. Có một thực tế mà chúng ta phải hiểu rõ đó là tất cả các dân tộc thời cổ đại đều tin tưởng thần linh chở che trong mọi sinh hoạt cuộc sống. Thật vậy, khi con người vừa bước ra khỏi thời kỳ ăn lông ở lỗ của thuở hồng hoang để bước vào hình thái xã hội ban sơ, con người cảm thấy nhỏ nhoi trước sức mạnh kỳ bí của thiên nhiên nên yếu tố thần linh ngự trị trong mọi sinh hoạt của họ.     

Bước sang đầu thiên niên kỷ thứ ba, một số dân tộc có một nền văn minh tương đối cao nhưng vẫn còn tôn thờ những vật tổ linh thiêng của họ như dân Ấn vẫn còn thờ bò. Do đó, chúng ta không thể dựa trên những tập tục cổ của một dân tộc mà đánh giá một cách sai lầm là xã hội đó kém văn minh, mê tín, hoang đường. Đó là cách nhìn theo quan điểm giả tiến hoá. Trái lại sự hiện hữu tục thờ vật tổ Totem của một số dân tộc chứng tỏ tính phong phú đa dạng của nền văn hoá truyền thống của mỗi dân tộc. Vấn đề là phải tìm hiểu phần tinh tuý, cốt lõi của nhân vật hình tượng Mẹ Tiên như Jung nói: “sự đúc kết biết bao suy tư của thời đại tạo dựng độc sáng phải chờ thế hệ sau diễn đạt bằng ngôn từ minh nhiên lý luận”.


      Một khi tiền nhân thần thọai hóa mẹ Âu là Tiên thì Mẹ Âu Cơ có thể làm bất cứ điều gì mà người phàm không làm được, đó là đẻ ra trứng thuộc phạm trù tín ngưỡng nguyên thủy cũng như phạm trù tôn giáo đòi hỏi phải có niềm tin một cách mặc khải. Gạt sang một bên vấn đề tự tình dân tộc để tìm hiểu xem tại sao Mẹ Âu lại đẻ ra “trứng”, chúng ta thấy rõ hàm ý sâu xa của tổ tiên ta. Thật vậy, ý niệm trứng trong huyền thoại biểu trưng Totem vật tổ biểu trưng của Việt tộc là tộc người thờ chim là một con vật đứng đầu trong tứ linh: “Nhất điểu, nhì ngư, tam xà, tứ tượng”. Vì vậy, việc Mẹ Âu Cơ mà vật tổ biểu trưng là chim thì việc mẹ Âu sinh ra trăm trứng nở ra trăm người con trai trên bình diện tâm linh là bình thường không có gì đáng ngạc nhiên cả.[3]      Nguồn sách sử cổ cũng cho ta biết “Lạc bộ Chuy” là chi tộc Việt từ vùng Cao Nguyên Côn Sơn-Malaya tiến xuống vùng lưu vực của 3 con sông Hoàng Hà, sông Lạc và sông Vị. Lạc bộ Chuy là chi Việt cổ của họ Hồng Bàng có vật tổ biểu trưng là chim vì ông cha ta đã theo dấu chim Hồng, chim Lạc thiên cư xuống vùng trung nguyên khi mực nước biển rút dần. Trước đó, một nhánh khác tiến xuống vùng núi Dân, Ba Thục cũng được gọi là Châu Phong. Địa danh Phong Châu ở Bắc Việt Nam cũng chỉ là nhắc lại địa danh cư trú ban đầu của Việt tộc nơi mà mẹ Âu dẫn 50 con lên núi rồi suy cử người con trưởng làm vua nước Văn Lang như truyền thuyết kể lại.


      Âu Cơ và 50 con lên đất Châu Phong, suy phục lẫn nhau cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang, Đông giáp Nam Hải, Tây tới Ba Thục, Bắc tới Động Đình Hồ, Nam tới Hồ Tôn (Chiêm Thành). Bản “Hùng Triều Ngọc Phả” cũng ghi là đời Hùng Vương thứ 16 là Hùng Tạo Vương húy là Đức quân Lang (660-569 TDL) dời đô xuống Phong Châu Thượng ở Vân Nam Trung Quốc bây giờ. Sách “Lĩnh Nam Trích Quái” truyện Thánh Tản Viên chép rằng đời Chu Noãn Vương, vua Hùng thứ 18, lấy quốc hiệu là Văn Lang đến ở đất Việt Trì, châu Phong ở Bắc Việt Nam bây giờ.Sự kiện này phù hợp với cương giới Văn Lang ở trung nguyên Trung Quốc được ghi trong thư tịch cổ.     Những công trình nghiên cứu địa danh là những từ ngữ của một tộc người đã ghi tạc vào sông núi nơi địa bàn cư trú của họ ở một thời điểm nhất định nào đó, cho phép chúng ta kết luận là sự tương đồng của những địa danh khẳng định địa bàn cư trú của cùng một tộc người trên vùng đó. Trong số những địa danh thì thủy danh là tên sông, nhất là những con sông lớn có tên sớm nhất trước cả tên đất nữa. Công trình nghiên cứu cho ta thấy 2 con sông lớn ở Đông Á và Đông Nam Á là Dương Tử Giang và Cửu Long Giang (Mékong) có tên gọi giống nhau và cùng bắt nguồn từ một danh từ cổ là “Kang”.


      Cách phát âm này hiện được giữ lại trong các tiếng địa phương Quảng Đông và Thượng Hải. Xét theo tự dạng thì chữ “Giang” lại dùng chữ “Công” để phiên âm. Tên sông Mékong được gọi bằng nhiều tên theo tiếng nói của các dân tộc mà sông này chảy qua Trung Quốc gọi là Khung Giang, Lào gọi là Nậm Khoỏng, Cambodia (Kampuchia) gọi là Mê Kong và xuống đến lãnh thổ Việt Nam, con sông này được gọi một cách thân thương là Cửu Long Giang. Tất cả những danh từ như Cửu Long Giang, Nậm Khoỏng, Mékong, Khung Giang là những dạng tương tự về mặt ngữ âm từ một tên gốc là Kông mà ra.


     Về địa danh, nếu chúng ta ngược dòng thời gian đi sâu xuống lớp địa danh Hán Việt đầy rẫy nơi vùng cư trú của người Việt thì có thể thấy còn có một lớp địa danh cổ hơn nữa, đó là lớp tên nôm với yếu tố cấu thành là chữ “Kẻ”. Những tên nôm với yếu tố Kẻ như thế rất nhiều, có thể nói rằng hầu hết xã thôn Việt Nam ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ đều có. Tên nôm hiện nay đang bị quên dần đi và ít được dùng đến, nhưng nó từng tồn tại rất lâu. Trước đây, trong một thời gian dài nó tồn tại song song với Hán Việt, thông thường tên nôm dùng để gọi, còn tên Hán Việt là “tên chữ”.


      Như chúng ta biết, tên đặt ra trước tiên dùng để gọi, đến khi xã hội phát triển ở mức độ khá cao mới nảy sinh nhu cầu ghi chép. Hơn nữa xét tương quan ngữ âm giữa các cặp tên nôm và tên chữ thì chúng ta thấy rõ là tên chữ được đặt ra bằng cách phiên âm tên Nôm và trong một số trường hợp bằng cách dịch nghĩa nữa. Điều này một lần nữa khẳng định nhu cầu ghi chép là điều kiện xuất hiện những từ ngữ gọi là Hán Việt. Đặc biệt trong nhiều tên làng Việt Nam, chữ Kẻ trong những tên nôm được phiên âm ra tên Hán Việt bằng chữ Cổ những địa danh có chữ “cổ” đứng đầu rất phổ biến. Địa danh có chữ Cổ còn thấy rải rác ở Cam Túc, Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam, nhưng tập trung nhất vẫn là vùng Lưỡng Quảng.


      Như vậy tên nơi cư trú có thành tố “Kẻ-Cổ” đứng đầu trong địa danh học cần đặc biệt lưu ý khi xét vùng đất cổ của cư dân Văn Lang, nó được tìm thấy ở một mức độ tập trung khá cao tại miền đất bao gồm miền Bắc Việt Nam và vùng Lưỡng Quảng hiện nay. Địa bàn phổ biến địa danh có chữ “Kẻ” xưa và “Cổ” hiện nay có thể trải rộng ra nhiều tỉnh thuộc Hoa Nam, nhưng chúng ta đều biết địa bàn phân bổ của địa danh, càng rộng bao nhiêu thì khởi điểm của loại địa danh đó càng cổ bấy nhiêu. Rất có thể vùng đất tập trung địa danh thuộc nước Văn Lang như truyền thuyết cho biết.[4]     Tầm nguyên ngữ nghĩa của chữ “Lang” cho chúng ta những nhận định chính xác hơn về địa bàn cư trú của người Việt cổ cũng như uyên nguyên ngữ nghĩa của tên nước Văn Lang. Cũng như các dân tộc khác thời cổ đại khi còn là một tộc người thì lấy chữ “người” để chỉ tên của dân tộc đó theo ngôn ngữ của họ. Chữ Lang trong tiếng Hán có nghĩa là đàn ông, nguyên gốc của Việt cổ còn ghi rõ trong truyền thuyết con trai vua gọi là Quan Lang và con gái là Mị nương. Đồng bào Mường hiện nay vẫn gọi Quan Lang là người đứng đầu một Mường (bản làng).


      Ngôn ngữ phương Nam còn có những chữ như Dranglô của Barnar có nghĩa là đàn ông, Arăng tiếng Êđê và Urang của Chàm đều có nghĩa là người. Trong tiếng Indonésia, Mã Lai chữ Orang cũng nghĩa là người. Phương pháp so sánh của ngôn ngữ lịch sử xem những danh từ kép Văn Lang, Việt Lang, với Urang, Ô rang, cũng xem như Dạ Lang với Drang trong chữ Dranglo là giống nhau trên căn bản. Sự khác biệt là do biến đổi từ trạng thái nọ sang trạng thái kia theo điều kiện không gian và thời gian mà thôi.        Căn cứ trên bản đồ nhân chủng cho thấy tộc danh có thành tố “Lang” trải rộng khắp Trung Nguyên từ lưu vực sông Dương Tử xuống tới Bắc Trung Việt (Việt Nam) như Dạ Lang (Quý Châu) Bạch Lang (Tứ Xuyên), Việt Lang (Quảng Đông) và Văn Lang (Bắc Việt Nam) và những danh từ chung chỉ người như Lang, Dranglo, Orang, trải rộng trên một địa bàn lớn ở vùng đồng bằng ven biển, các vùng ven biển bao quanh biển Đông tới Indonesia, Mã Lai.[5]      Vùng đất cư trú của các chi tộc này xét về mặt địa lý phù hợp với cương vực của nước Văn Lang cũ như truyền thuyết kể lại. Điều này được xác nhận bởi các nguồn sách sử cổ như “Thiên Hạ Quận Quốc Lợi Bệnh Thư” đã bị triều Thanh tịch thu thì: “Ở tỉnh Quảng Tây có nhiều người Lang (Lang nhân). Do đó người ta gọi thổ binh ở vùng này là Lang binh và người Choang cách đây 4, 5 thế kỷ vẫn còn được gọi là Lang, Choang là đọc chữ Lang trại âm mà ra”. Thực tế lịch sử cho chúng ta thấy tính hiện thực của truyền thuyết trăm trứng nở trăm con với sự hiện diện của các nước mà cổ sử Trung Quốc gọi là Bách Việt (Bai-Yue).      


Danh xưng Bách Việt trong sách “Lã Thị Xuân Thu”, thiên “Tự Quan” viết: “Phía Nam Dương Châu, Hán (Hán thủy) là Bách Việt”. Cao Dụ giải thích tiếp như sau: “Bách Việt là nơi tộc Việt có cả trăm chủng”. Sách Hậu Hán Thư, Địa lý chí dẫn lời Thần Tán về Bách Việt như sau: “Từ Giao Chỉ đến Cối Kê trên 7,8 ngàn dặm, người Bách Việt ở xen kẽ nhau gồm nhiều chủng tính (tên họ) khác nhau”.  Sử Ký của Tư Mã Thiên chép rằng đời Chu An Vương, Sở Điệu Vương sai Bạch Khởi đánh dẹp Bách Việt ở miền Nam vào đầu thế kỷ thứ IV TDL. Sách “Lã thị Xuân Thu” viết rằng  ngay từ đầu triều Thương, cổ sử Trung Quốc đã đề cập tới tên một số chi tộc Việt như Âu Thâm, Việt Âu, Quế Quốc, Quyên Tử, Sản Lý, Cửu Khuẩn, Đông Việt, Âu Nhân, U Việt, Cô Muội, Thả Âu và Cung Nhân.


      Đời Tống, La Tất viết “Lộ sử” đã liệt kê một số nhóm trong Bách Việt như sau: “Việt Thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu Khải, Âu Nhân, Thả Âu, Cung Nhân, Hải Dương, Mục Thâm, Phù Xác, Cầm Nhân, Thương Ngô, Man Dương,  Dương Việt, Quế Quốc, Tây Âu, Quyên Tử, Sản Lý, Hải Quỳ, Tây Khuẩn, Kê Từ, Bộc Cần, Bắc Đái, Khu Ngô gọi là Bách Việt”.


      Theo “Dật Chu Thư” thì các chi tộc Việt ở Lĩnh Nam như Quế Quốc, Sản Lý, Quyên Tử, Cửu Khuẩn phải cống nạp đồi mồi, hạt châu, chim quí, ngà voi, sừng tê, chim Hạc, chó lùn. Lạc Việt cống tre ngà (đại trúc) măng trúc, Thương Ngô ở phía Nam Hồ Nam cống chim công. Tuy nhiên, sách “Trúc Thư Kỷ Niên” chép là mãi đến đời Chu Thành Vương, năm 1040 TDL “Vu Việt lai tân” nghĩa là Việt đến làm khách thăm xã giao mà thôi. Trong “Dật Chu Thư”, La Tất viết chữ Lạc là Lộ, chữ Lộ chính là chữ Lạc đã được sách Lã Thị Xuân Thu giải thích rõ ràng. Như vậy, La Tất viết Lộ sử tức sử của Lạc Việt.[6]      Sách sử cổ của Trung Quốc cũng ghi là đời Chu, có phái đoàn sứ bộ Việt Thường sang biếu chim Bạch Trĩ năm 1110 TDL đời Chu Thành Vương năm thứ 6. Như vậy chính cổ sử Trung Quốc đã xác nhận sự hiện hữu của Việt Thường ngay từ thời Đế Nghiêu. Việt Thường Thị của cư dân trồng lúa nước nên đã có trình độ cao về thiên văn và đã làm ra lịch thời vụ mùa màng cho nông nghiệp gọi là Nông lịch. Chính vì cùng một dòng tộc đại chủng Bách Việt nên họ Việt Thường đã đến biếu vua Nghiêu một con rùa hàng ngàn năm tuổi. Trên lưng con rùa này có viết chữ “Khoa Đẩu” tức là lối chữ hình con nòng nọc của tộc Việt dòng Thần Nông phương Nam để chỉ cách làm và ứng dụng Nông lịch là Âm lịch còn dùng mãi đến tận bây giờ.


      Sau thời Đế Nghiêu Thuấn đến nhà Hạ, Nông lịch đã ứng dụng hoàn chỉnh nên sách sử cổ thường gọi là lịch nhà Hạ. Đó chính là Việt lịch tính theo chu kỳ của mặt trăng. Học giả Lê Quý Đôn trong “Vân Đài Lọai Ngữ” đã viết: “Việt lịch tức Âm lịch tính theo hệ thống quỹ đạo mặt trăng ứng dụng cho con nước mà bia đá ở Cối Kê, kinh đô nước Việt thời Câu Tiễn ghi rõ là nước thủy triều lên xuống đúng chu kỳ mặt trăng”.      

Trong tác phẩm Sử Ký, sử gia chính thống Đại Hán là Tư Mã Thiên chép về sự hình thành của quốc gia Việt Thường như sau: “Đầu đời Tây Chu (1143-770TDL) người nước Việt Thường đuổi người Tam Miêu, lập nước ở vùng giữa hồ Động Đình và hồ Phiên Dương còn gọi là hồ Bà Dương ở phía Nam lưu vực sông Dương Tử”. Như vậy, nước Việt Thường còn tồn tại mãi tới đời vua nước Sở là Hùng Cừ. Sử nước Sở chép rằng đời Hùng Cừ (887-877TDL) đã chiếm Việt Thường bên hồ Phiên Dương mà kinh đô của Việt Thường nằm ở giữa hồ Phiên Dương và hồ Động Đình.


      Theo Đào Duy Anh thì trong những nhóm Bách Việt ấy chúng ta thấy có những nhóm như Dương Việt ở hạ lưu sông Dương Tử, nhóm Thương Ngô ở miền Nam tỉnh Quảng Tây, nhóm Sản Lý tức Xà Lý (Xa Lý) ở tận miền Tây Nam tỉnh Vân Nam, còn Kê Từ, Bắc Đái là những tên huyện thời Hán thuộc quận Giao Chỉ. Trong những nhóm Bách Việt được chính sử Trung Quốc như Sử Ký và Tiền Hán Thư chép tương đối kỹ càng là: Đông Việt, Mân Việt, Nam Việt, Tây Âu. “Sử Ký Mục “Đông Việt Truyện” cho chúng ta biết rằng Đông Việt hay Đông Âu trong thời Tần Hán đóng đô ở Vĩnh Ninh tức Vĩnh Gia là miền Triết Giang. Mân Việt thì ở đất Mân Trung tức là miền Phúc Kiến. Nam Việt đóng đô ở Quảng Châu gọi là thành Phiên Ngung thuộc miền Quảng Đông, Tây Âu ở phía Nam sông Ly miền Quảng Tây. Nhóm Lạc Việt, theo Hậu Hán Thư cho chúng ta biết rằng các quận Giao Chỉ và Cửu Chân là người Lạc Việt, như thế Lạc Việt là một chi Việt tộc tập trung nhiều nhất ở miền Bắc Việt Nam.


      Như vậy, theo sử sách xưa của chính Hán tộc đã gọi Bách Việt là những nhóm người sống rải rác khắp miền Hoa Nam, phía Tây gồm cả đất Vân Nam Tứ Xuyên và phía Nam gồm cả Bắc và Trung Việt Nam bây giờ. Sử sách thường gọi chung miền này là miền Giang Nam tức miền Nam  Dương Tử Giang hoặc miền Lĩnh Nam, phía Nam rặng núi Ngũ Lĩnh. Tuy nhiên chính sử Trung Quốc chỉ ghi một cách sơ xài như Sử Ký của Tư Mã Thiên chỉ ghi kỹ về Đông Việt, Mân Việt, Nam Việt và Lạc Việt.


      Sách sử cổ Trung Quốc phải thừa nhận một thực tế lịch sử đó là sự thành lập của các quốc gia thời Xuân Thu Chiến Quốc mà họ gọi là Bách Việt ở vùng Giang Nam. Sử Ký của Tư Mã Thiên chép tương đối kỹ về Đông Việt tức U Việt của Việt Vương Câu Tiễn không chỉ ở Triết Giang mà lên tới miền Giang Tô tức châu Từ, quê hương của gốm sứ Việt cổ nổi tiếng của chi Dương Việt. Nước Việt đóng đô ở Cối Kê với những thăng trầm dâu bể của lịch sử nên Lý Tế Xuyên mới viết “Việt điện U linh” về nước Việt thuở xa xưa. Mân Việt ở Phúc Kiến,  Dương Việt ở Giang Tây, Liêu Việt ở Quý Châu, Điền Việt, Kiềm Việt ở Vân Nam, Quỳ Việt ở Tứ Xuyên, Nam Việt ở Quảng Đông, Âu Việt còn gọi là Tây Âu ở Quảng Tây và Lạc Việt ở xen kẽ với Âu Việt rải rác khắp Hoa Nam nhưng tập trung nhiều nhất ở Quảng Tây và Bắc Việt Nam bây giờ. Đối chiếu với cương giới Văn Lang trong truyền thuyết chúng ta thấy rất phù hợp với thực tế địa bàn cư trú của cộng đồng Bách Việt, từ Hồ Động Đình xuống tận phương Nam giáp Chiêm Thành và từ biển Đông sang tới tận Ba Thục ở phía Tây.


      Thế nhưng Đại Việt Sử Lược bị sử quan triều Thanh là Tiền Hi Tộ sửa đổi nên chép tên các bộ chỉ nằm trong phạm vi Bắc Việt Nam bây giờ. Theo học giả Lê Quý Đôn trong Vân Đài Loại Ngữ thì “Tên 15 bộ do triều Hán, Ngô mới đặt ra, tên gọi lẫn lộn ngờ rằng những tên đó là do bọn hậu Nho góp nhặt vay mượn chép ra nên khó mà tin được. Xét về phận dã thiên văn thì Giao Chỉ thuộc Sao Tĩnh, Dực Chẩn và Đẩu Ngưu”. Như vậy, Lê Quý Đôn đã phủ nhận cương giới 15 bộ do sử Tàu chép và xác nhận rõ là cương giới nước ta thời cổ nằm mãi ở Trung nguyên Trung Quốc bây giờ. Thật vậy, cương giới Hồng Bàng-Văn Lang xưa được ghi trong “Thiên thư” là Việt Tĩnh Cương lấy chòm sao Tĩnh làm chuẩn để phân bố các vùng, các bộ trong nước Văn Lang. Nhìn chung, chòm sao Tĩnh tượng hình bằng 2 đường thẳng và 2 đường ngang cắt nhau tại 4 điểm chỉ vùng đất từ Tam giang Bắc gồm sông Vị, sông Hoàng và sông Lạc xuống tới Tam giang Nam gồm sông Nguyên, sông Tương và sông Dương Tử.


      Sách Lĩnh Nam Trích Quái dựa theo truyền thuyết dân gian Việt cổ chép: “… Trăm người con trai đều vâng theo rồi từ biệt nhau. Âu Cơ cùng năm chục con trai ở tại Phong Châu, suy tôn người con trưởng lên làm vua gọi là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang. Nước ấy phía Đông giáp Nam Hải, phía Tây đến Ba Thục, phía Bắc đến hồ Động Đình, phía Nam đến nước Hồ Tôn Tinh (sau là nước Chiêm Thành). Vua Hùng chia nước làm 15 bộ: Giao Chỉ, Chu Diên, Ninh Sơn, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Quế Dương, Vũ Ninh, Hoài Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Chân Định, Quế Lâm, Tượng Quận”.[7]      Khác với Việt Sử Lược và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Lĩnh Nam Trích Quái lại chép các bộ Chân Định ở Trường Sa Hồ Nam, bộ Quế Dương, Quế Lâm ở Quảng Tây và Tượng Quận ở Quý Châu, Vân Nam Trung Quốc rất phù hợp nguồn sách sử cổ và với thực tế lịch sử của các nước Bách Việt ở lãnh thổ TQ bây giờ. Trong khi tất cả sách sử Trung Quốc đều viết cương giới 15 Bộ của nước Văn Lang chỉ nằm trong phạm vi Bắc Việt Nam. Sự khác biệt cũng không có gì khó hiểu, vì việc bóp méo, xuyên tạc và sự kiện lịch sử được hư cấu để vấn đề gốc tích dân tộc ta trở nên huyền hoặc là bản chất cố hữu, chủ trương trước sau như một của Hán tộc xuyên suốt dòng lịch sử.


      Tư Mã Thiên là người hiểu rõ hơn ai hết Hoàng Đế là người Việt vì cũng chính ông ta đã viết Đế Chuyên Húc, Đế Cốc đều là ông Tổ của những vị vua Việt sau này. Thế nhưng, với tư cách là sử gia đại biểu chính thống cho Hán tộc vẫn đặt bút viết Hoàng Đế là thủy tổ của Hán tộc. Tư Mã Thiên cũng hiểu rõ về Lạc bộ Chuy, Lạc bộ Thủy, Lạc bộ Trĩ nhưng lại viết Lạc bộ Mã vì không muốn người Việt nhớ đến cội nguồn dân tộc và lãnh thổ Việt xưa.


       Tóm lại, chính thực tế lịch sử đã minh nhiên lý giải ý nghĩa của sự việc lạ thường là mẹ Tiên đẻ trăm trứng nở trăm con, để rồi trở thành trăm chi tộc Việt mà sử cổ Trung Hoa gọi là Bách Việt. Mỗi chi tộc do một người con trai đứng đầu nên từ đó mới có ý niệm bách tính là trăm họ. Đây mới chính là vấn đề mà cốt lõi của nó là sự gửi gấm của ông cha ta thời dựng nước cho con cháu ngàn sau, về nguồn gốc giống dòng của trăm chi tộc Việt cùng chung huyết thống để lúc hoạn nạn nhớ cưu mang giúp đỡ lẫn nhau như lời Bố Lạc dặn dò trước lúc chia tay. Không những cưu mang giúp đỡ lẫn nhau mà còn phải đoàn kết, thống nhất sức mạnh Việt tộc để phục hưng đại tộc Việt.      

Truyền thuyết dân gian Hoa Nam và Đài Loan về chim Phượng Hoàng, chúa tể loài chim Totem Vật tổ Việt tộc mà dân gian gọi là “Bái điểu tộc”, chống lại “Thiên ma tộc” Đại Hán. Đó chính là bức “Thông điệp” của tiền nhân từ huyền thoại xuyên suốt mấy ngàn năm của dòng vận động lịch sử Việt. Thế là Truyền thuyết huyền thoại từ chỗ u u đã trở nên minh minh, chứ không còn u u minh minh như trước nữa. Ngày nay chúng ta không còn ngạc nhiên khi thấy ông cha ta đã chọn loại Chim là vật biểu. Hồng là Ngỗng trời nên còn có tên là Thiên Nga (Swan), hàm ý có chí lớn bay cao tận trời xanh. Hình ảnh chim được khắc hoạ trên mặt trống đồng với mỏ dài của loại chim nước. Các nhà nghiên cứu đã kết luận chim nước là của Đông Nam Á, nó gắn liền với cư dân nông nghiệp sống ở vùng  sông lạch, ao hồ.


      Theo triết gia Kim Định thì Hồng Hộc, chim nước của Việt tộc thể hiện nguyên lý Âm Dương Giao Chỉ vì nó vừa bay lên trời, vừa xuống dưới nước. Chi tộc Âu Việt tôn thờ chim Hồng biểu trưng của văn minh nông nghiệp cùng với chi Lạc thờ Rồng trong cộng đồng Bách Việt nên chúng ta vẫn tự hào là dòng giống Lạc Hồng (Lạc Âu). Trên bình diện tâm linh, hư cấu thêm ý nghĩa thần thoại thì chim bay lên tận trời xanh thường gắn liền với các vị Tiên nữ trên trời. Sách “Quảng Đông Tân Ngữ” ghi Trĩ là con Công của Việt tộc luôn luôn bay theo hướng mặt trời, mà con Công chính là chim Phượng Hoàng huyền thoại được coi như tổ các loài chim.


      Ý niệm Chim-Tiên-Mặt trời gắn liền với tín ngưỡng nguyên thủy của cư dân nông nghiệp với nền văn minh lúa nước của Việt tộc. Bên cạnh ý nghĩa tâm linh đó, chim Hồng biểu tượng một ý chí cao, luôn bay vươn lên, vượt tới trời xanh, thể hiện ý chí cao cả của tộc Việt, người dân Việt sẳn sàng hy sinh cho dân tộc nên xem cái chết “nhẹ như lông Hồng”.[8]






[1]. chữ “Việt 易” là chữ Dịch “易” là mặt trời (“Nhật日Việt”) chiếu sáng được đơn giản hóa và xếp theo nghệ thuật, các “tia sáng “勿” được gom lại để ở phía dưới theo chữ “Vuông” vừa đúng vừa đẹp. Kinh “Dịch 易” là kinh “Việt 易”, nước “Dương 楊”-Việt là thêm chữ “mộc 木” vào chữ này.
[2]. Trần Ngọc Thêm: Nguồn Gốc Đông Nam Á của Triết Lý Âm Dương. Tạp chí Triết Học số 1(260) tháng 1-2013.

38. Điều mà chúng ta ngạc nhiên là những gì mà tiền nhân chúng ta, ngay từ thời cổ đại đã nói tới ý niệm “Trứng” mà gần năm ngàn năm sau, với nền y học hiện đại, chúng ta mới biết là người phụ nữ có một buồng trứng, khi trứng rụng kết hợp với tinh trùng sẽ tạo thành bào thai.
[4]. Hoàng Thị Châu: Mối Liện hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua tên sông ở Việt Nam (Thời Đại Hùng Vương, NXB Hà Nội).
[5] Hoàng Thị Châu: Mối Liện hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua tên sông ở Việt Nam (Thời Đại Hùng Vương, NXB Hà Nội).
[6]. Lê Xuân Diệm: Thời Dựng Nước, Lịch Sử Việt Nam Tập 2 tr 40. Tưởng Bỉnh Khiêm, Ngô Miên Cát, Hạnh Thổ Thành” Văn hoá Dân tộc Bách Việt”, NXB Học Thuật Hạ Môn, Trung Quốc, 1986, tr 401.
[7] Lĩnh Nam Trích Quái: Sách số A 1920 của Thư viện Khoa Học Trung Ương.
[8]. Việt tộc có vật tổ biểu trưng là chim nên “xem cái chế nhẹ như lông chim Hồng”, trong khi Hán tộc du mục sống trên lưng ngựa nên xem cái chết như “Da ngựa bọc thây” là như thế. Núi Thái Sơn: Núi Thái Sơn ở Sơn Đông Trung Quốc bây giờ. Sở dĩ dân gian so sánh công cha với ngọn núi Thái Sơn vì vùng Sơn Đông là địa bàn cư trú của người Việt cổ mà cổ sử Trung Quốc gọi là “Lạc bộ Trĩ”. Từ thời Thương đã đánh đuổi Lạc bộ Trĩ phải rời bỏ vùng đất tổ này chạy xuống phương Nam. Một số chạy ngược lên bán đảo Triều Tiên thành lập nước Cao Câu Ly và chạy sang Nhật.

Nỗi Đau Mất Đất: Bộ Phim Của Máu và Nước Mắt _Trà Mi VOA.

E-mailPrint

 

‘Nỗi đau mất đất’ là tập 1 trong loạt phim phóng sự–tài liệu ‘Vượt qua nỗi sợ hãi’ dài 5 tập do nghệ sỹ Kim Chi và cô Helena Lee từ California cùng một số bạn bè cả ở trong lẫn ngoài nước chung tay thực hiện.

‘Nỗi đau mất đất’ là tập 1 trong loạt phim phóng sự–tài liệu ‘Vượt qua nỗi sợ hãi’ dài 5 tập do nghệ sỹ Kim Chi và cô Helena Lee từ California cùng một số bạn bè cả ở trong lẫn ngoài nước chung tay thực hiện. 

Một nhóm các nhà làm phim độc lập trong và ngoài nước vừa trình làng bộ phim tài liệu do chính các ‘ký giả công dân’ thực hiện nói về một trong những vấn đề gây bức xúc nhất trong xã hội Việt Nam, nguồn gốc của đại đa số đơn thư khiếu kiện trong nước và cũng là nguyên nhân đẩy biết bao gia đình, đa số là nông dân, vào cảnh lầm than, màn trời chiếu đất.
‘Nỗi đau mất đất’ là tập 1 trong loạt phim phóng sự–tài liệu ‘Vượt qua nỗi sợ hãi’ dài 5 tập do nghệ sỹ Kim Chi, người từng tham gia nhiều phim lớn của điện ảnh cách mạng Việt Nam, và cô Helena Lee từ California cùng một số bạn bè cả ở trong lẫn ngoài nước chung tay thực hiện.
Ê kíp làm phim trên dưới chục người đã mất 1 năm rưỡi thu thập tài liệu, phỏng vấn nhân chứng, quay, dựng, và biên tập phim. Kinh phí cho các chuyến đi và chi phí kỹ thuật đến từ sự tự nguyện của mỗi người đóng góp công sức trong phim.
Cô Helena cho biết vì loạt phim hoàn toàn mang tính tự nguyện, vô vụ lợi nên nhóm đã tặng quyền công chiếu cho các kênh truyền hình, các kênh Youtube, và các trang Facebook.
Tập đầu ‘Nỗi đau mất đất’ được phát hành rộng rãi và miễn phí ngay trước phiên xử phúc thẩm một nhà hoạt động đất đai được nhiều người biết tiếng, bà Cấn Thị Thêu, vào ngày 30/11/16.

‘Nỗi đau mất đất’ vừa công chiếu trên các phương tiện truyền thông xã hội là bức tranh toàn cảnh về những vụ cưỡng chế đất đai xảy ra trên khắp mọi miền đất nước, trong đó nhấn mạnh hai trường hợp điển hình là bà Cấn Thị Thêu ở phường Dương Nội, quận Hà Đông (Hà Nội) và ‘người nông dân nổi dậy’ Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, Hải Phòng.
‘Nỗi đau mất đất’ nối kết các sự kiện riêng lẻ về tình trạng dân oan bị cưỡng chế đất, bị bần cùng hóa, mất phương tiện sinh sống, trở thành những ‘dân oan’ khiếu kiện hay những ‘tù nhân bất đắc dĩ’ vì các hoạt động đấu tranh của họ bị hình sự hóa với các tội danh như ‘Gây rối trật tự’ hay ‘Chống người thi hành công vụ.’
Đa số tư liệu trong phim, kể cả những cảnh đàn áp, bố ráp đều do chính các nạn nhân quay lại.
Tập 2 nhan đề “Phá vỡ khuôn khổ” nội dung chính xoay quanh việc định hình của xã hội Việt Nam bị dằng co giữa hai chiều hướng cộng Sản tập trung và tư bản tư hữu.
Tập 3 “Nói không với đảng” chuyển tải những suy nghĩ của một số đảng viên kỳ cựu trong bối cảnh đất nước hiện nay về vai trò của đảng cộng sản và khát vọng dân chủ của người dân.
Tập 4 “Những người tù vĩ đại” nói về những tù nhân lương tâm tại Việt Nam, những người bị lãnh án vì các hoạt động đấu tranh cho các nhân quyền căn bản và kêu gọi tôn trọng quyền làm chủ đất nước của công dân.
Tựa đề tập cuối nói lên chủ đề xuyên suốt của loạt phim, “Vượt qua nỗi sợ hãi”, đúc kết tất cả các vấn đề nguyên thủy những người thực hiện muốn chuyển tải nhằm thức tỉnh nhận thức của mọi người về vai trò công dân trước hiện trạng xã hội.
Cô Helena cho biết ý tưởng làm nên bộ phim “Vượt qua nỗi sợ hãi” xuất phát từ chính ‘nỗi sợ hãi’ của bản thân và sự cảm nhận về nỗi sợ hãi đã bám rễ sâu xa trong tư tưởng của người dân Việt ‘sợ’ nói ra chính kiến hay suy nghĩ thật của mình, ‘sợ’ bị bắt, bị tù đày và bị trù dập.
Thông điệp chính của bộ phim là chia sẻ câu chuyện của những người trong cuộc về thực tế dân chủ và nhân quyền, những vấn đề đang hiện hữu ở Việt Nam, để mọi người ‘cởi trói tư tưởng’, tìm hiểu sự thật, và tìm kiếm công lý.
Nhóm làm phim nói những câu chuyện đó cần được chuyển tải đến mọi người, không phải để nói xấu chế độ hay bôi xấu xã hội Việt Nam, mà để hướng tới sự cải thiện, làm cho xã hội tốt đẹp và công bằng hơn.
Cô Helena chia sẻ dù đây không phải là những thước phim chuyên nghiệp nhà nghề, nhưng giá trị của chúng chan đầy máu và nước mắt của những nhân chứng sống. Trong phần giới thiệu phim trên kênh YouTube USAflows của nhóm, những người thực hiện viết rằng: “Đây không phải là những thước phim hoàn hảo vì nó đơn thuần được quay lại bởi cán nạn nhân trong cuộc, nhưng những thước phim này là vô giá bởi nó được trả bằng máu của chính họ.”
Sau phần 1, những tập phim kế tiếp sẽ được hoàn tất ra mắt khán giả trong năm 2017 tới đâyTrà Mi Theo VOA