Showing posts with label PHAM TRAN ANH. Show all posts
Showing posts with label PHAM TRAN ANH. Show all posts

Monday, December 5, 2016




CƯỚP SÚNG CHÈO…

     Một kỷ niệm hú hồn xảy ra trong thời gian tôi làm đội trưởng ở trại Xuân Lộc. Mỗi buổi sáng khi xuất đội đi lao động, tôi thường bàn với cán bộ quản giáo đội lúc đó tên là Thảo về công việc trong ngày, chỉ tiêu lao động dĩ nhiên là tương đối nhẹ nhàng cho anh em mình. Trong đội có chú em tên Mạnh, tính khí hơi nóng giận bất thường một chút. Khoảng hơn 11 giờ sáng hôm đó, tôi vừa về nhà lô một chút thì thấy cán bộ võ trang dẫn đội về. Tôi bước ra thì nghe thấy Mạnh và tên cán bộ vừa đi vừa cãi nhau. Sau này tôi nghe anh em kể lại là cãi nhau từ ngoài đội, tên võ trang nói xỏ xiên chê bai thần quyền mà Mạnh đang tập nên y thách thức đòi so tài cao thấp … 

    Tôi nghe thấy to tiếng cãi vã nên vội bước ra can thiệp. Lúc đó tên cán bộ Phẩm mặt đỏ gay, miệng chửi thề liên tục. Mạnh như điên tiết muốn xông vào, tôi nhảy ra đứng giữa hai người. Hai bên vẫn lớn tiếng cãi nhau, đột nhiên tên võ trang chửi thề “Địt mẹ mày còn nói nữa ông bắn bỏ mẹ mày bây giờ”. Tôi vội nói “cán bộ để tôi và cán bộ Thảo giải quyết chuyện này”. Tên này không nghe vừa nâng súng lên thì Mạnh nhảy vào ôm nó đè xuống. Anh em chạy tán loạn, tôi thấy nguy hiểm quá, một thoáng biến sắc rồi cũng nhảy vào lấy tay đè mũi súng xuống sợ nổ trúng anh em. Tên võ trang không dám bỏ súng nên Mạnh đánh tới tấp vào mặt, máu mũi chảy ra be bét. 

     Đang lúc đó thì cán bộ võ trang thứ hai chạy tới thấy đang ôm nhau giật súng, y nâng nòng súng lên. Tôi vội giơ tay nói “Cán bộ Ly không có gì đâu. Đừng bắn”. Vừa lúc đó cán bộ quản giáo Thảo chạy tới, tôi nói cán bộ Thảo tháo băng đạn ra. Lúc đó không còn thì giờ suy nghĩ, cán bộ Thảo nhảy vào tháo băng đạn ra. Tôi nói ngay cán bộ Thảo giữ cán bộ Phẩm ở đây để tôi đưa Mạnh vào trại. Vừa tới cổng trại thì tên Phẩm vừa chạy theo vừa la lớn: “anh Sơn đừng cho nó vào, nó đánh em chảy máu mũi rồi”. Tên Sơn trực trại hỏi tôi việc gì vậy anh Anh. Tôi nói ngay, lệnh ban giám thị nhốt thằng này gấp, vừa nói vừa đẩy Mạnh vào bên trong trại. Tôi phải làm và nói vậy vì nếu để Mạnh ở ngoài chắc chắn là phải chết vì đòn thù của chúng. Mấy phút sau tên trưởng trại Phước chạy vào gặp tôi hỏi vụ việc xảy ra. Tôi đánh phủ đầu ngay để hù y là: “Cũng may không có tôi nhảy vào đè mũi súng xuống thì ngày mai đài Mỹ đã loan tin là trại giết tù chính trị là cán bộ mất chức liền ...”. Tên Giám thị nghe vậy cũng giật mình nói vội “Thôi vậy là may quá, anh cho đội về nghỉ rồi cho sinh hoạt kiểm điểm”.

     Sự việc xảy ra thật bất ngờ, nhưng cũng thật là may, nếu tôi không liều nhảy vào thì chắc chắn là chúng sẽ bắn chết Mạnh và có thể nhiều người nữa. Tôi nói may vì cán bộ Ly bất mãn với chế độ nên thường hỏi han tôi về tình hình, chính vì vậy mà anh ta không bắn chứ nếu là người khác chắc tôi cũng đi đứt rồi, xong hồ sơ rồi. Sau đó, bọn an ninh điều tra liên tục, vẽ lại sơ đồ hiện trường thấy anh em đều đứng xa nơi giựt súng, 2 đại uý Nguyễn Hữu Cầu và đại uý Nguyễn văn Thục của mình nhanh chân nhảy xuống bờ ao nên không có lý do để qui kết là mưu toan cướp súng thì khốn nạn vô cùng!

     Sự việc không chỉ có thế, trong đội cũng kiểm điểm, và Mạnh phải đi kỷ luật 6 tháng. Trại cũng kiểm điểm kết tội cán bộ Thảo và cán bộ Ly là: "Nào là tiếp tay với địch, nào là không kiên định lập trường chuyên chính, sao không “bắn bỏ mẹ chúng nó đi”. Tội nghiệp cán bộ Thảo bị kỷ luật, sa thải khỏi ngành còn cán bộ Ly bị kỷ luật thuyên chuyển đi nơi khác. Viết đến đây tôi thầm cám ơn những người anh em dù trong hoàn cảnh phải đi bộ đội, phải đi công an nhưng vẫn còn lòng nhân ái và đặc biệt vẫn ngấm ngầm chống cộng như chúng ta. 

     Trong đời tù, tôi đã gặp ít nhất là mấy người công an có người lên tới cấp đại uý công an nhưng vẫn âm thầm giúp đỡ chúng tôi thật nhiều. Họ thông báo với tôi về những kế hoạch của cộng sản là chúng sẽ tàn sát chúng tôi nếu Trung Quốc tấn công tới đây, vụ chống phá trại ở Đại Bình cũng được một sĩ quan an ninh thông cung chỉ cách khai cung tránh né. Môt viên sĩ quan chắc bây giờ cũng lên tới cấp tá rồi một lần đã nói với tôi là nếu Phục quốc đến đây thì anh ta là người đầu tiên sẽ bắn bắn hết chúng nó … và chắc quý vị cũng chẳng ngờ được là trong trại tù để lọt một cây kim cũng là một vấn đề khó khăn, thế mà trong phòng lúc nào chúng tôi cũng có một chiếc radio nhỏ để nghe tin tức VOA, BBC và cả đài Á châu Tự do để theo dõi sát tình hình. Chính những người này mua cho tôi, mỗi lần có tin xét phòng phải bóp nát nhét vào lỗ cầu phi tang và cũng nhờ họ mới chuyển bản kháng thư ra ngoài để gia đình gửi tới Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Tôi phân công để một anh bạn tù bệnh kinh niên hom hem, lúc nào cũng trùm mền có nhiệm vụ nghe các đài. Sáng sớm hôm sau thức dậy, ra đứng tập thể dục cạnh tôi, tay chân chim bay cò bay nhưng miệng vẫn nói lại những gì đã nghe đêm hôm qua.

     Xin chân thành cám ơn những người anh em gọi là bên kia chiến tuyến phải vào quân đội công an vì hoàn cảnh nên cũng là nạn nhân của chế độ. Họ là nạn nhân của cộng sản trước đồng bào miền Nam chúng ta 21 năm trời nên họ hiểu rõ hơn ai hết bộ mặt thật của cộng sản. Sau ngày quốc hận 30 tháng tư 1975, đồng bào miền Nam phát pháo trước nhưng họ sẽ cùng với đồng bào cả nước và đồng bào hải ngoại sẽ dứt điểm chế độ cộng sản bạo tàn phi nhân phản dân tộc ngay trong lòng của cộng sản Việt Nam. Những người anh em này có một tấm lòng nhân hậu, yêu thương và cũng một lòng chống bọn độc tài cộng sản. Chúng ta cũng sẽ chẳng ngạc nhiên khi cộng sản đàn áp dân lành thì những người Việt Nam yêu nước chống độc tài cộng sản ngay trong hàng ngũ bộ đội, công an sẽ đứng lên cùng đồng bào lật đổ chế độ cộng sản, đó là điều cộng sản không bao giờ ngờ nhưng nó sẽ xảy ra trong nay mai mà thôi. 

     Vụ “Cướp súng” này này xảy ra chưa được một tháng thì một buổi sáng tinh mơ, chúng tôi được lệnh dọn đồ chuyển trại không biết đi tới đâu nhưng chúng tôi cũng hiểu là chắc chắn sẽ đến một nơi khắc nghiệt hơn nơi địa ngục trần gian này!

Wednesday, November 30, 2016

VIỆT NAM TRÊN ĐƯỜNG TƯƠNG LAI




VIỆT NAM TRÊN ĐƯỜNG TƯƠNG LAI
LỬA THIÊNG SOI TOÀN THẾ GIỚI…
VIỆT NAM TA NGUYỀN TRANH ĐẤU CHO ĐỜI…


TỰ TÌNH DÂN TỘC

    Mỗi dân tộc đều có những truyền kỳ lịch sử được thần thoại hoá thể hiện lòng tự hào dân tộc mang tính sử thi của mình. Thật vậy, huyền thoại Rồng Tiên về ngọn nguồn huyết thống Việt tuy đượm vẻ huyền hoặc nhưng lại tràn đầy tính hiện thực, thấm đậm nét nhân văn của truyền thống nhân đạo Việt Nam. Huyền sử con Rồng cháu Tiên là niềm tự hào của nòi giống Việt. Đã là người Việt Nam thì từ em bé thơ ngây đến cụ già trăm tuổi, từ bậc thức giả uyên bác đến bác nông dân suốt đời chân lấm tay bùn, không ai không một lần nghe truyện cổ tích Họ Hồng Bàng. Thật vậy, ai trong chúng ta mà không biết về nguồn cội Rồng Tiên với thiên tình sử của Bố Lạc Mẹ Âu mở đầu thời kỳ lập quốc của dòng giống Việt.

    Truyền thuyết Việt Nam nói đúng hơn, là truyền kỳ lịch sử Việt Nam được hư cấu dưới lớp vỏ huyền thoại nhưng thực chất dựa trên sự thật lịch sử được hư cấu như một huyền tích trong đó đề cao con người với ý nghĩa nhân bản truyền thống. Truyền thuyết Việt Nam biểu trưng một triết lý văn hoá cao đẹp không những thấm đậm tính nhân đạo, chan chứa vẻ nhân văn, mà còn tràn đầy tình đồng bào, nghĩa ruột thịt qua hình tượng “Bọc điều trăm trứng nở trăm con”. 

    Từ ý niệm đồng bào dẫn đến lòng yêu nước, thương nòi, yêu quê cha đất tổ, tất cả đã trở thành giá trị đạo lý truyền thống của nền văn minh đạo đức Việt Nam. Henri Bernard Maitre một nhà Việt Nam Học đã ca tụng nét đẹp văn hiến của Việt tộc qua đền thờ Văn Miếu: “Văn Miếu không phải để cầu kinh hay làm bùa phép mà là nơi trang trọng ghi ơn các anh hùng dân tộc, các danh nhân văn hoá, các vị Tiến sĩ với những chuẩn mực đạo đức để con cháu đời sau ghi sâu vào tâm khảm bài học về đạo làm người Việt Nam, xứng đáng với hoài bão của Tiền Nhân”.

    Đối với người Việt, việc thờ cúng Ông bà Tiên tổ là đạo lý làm người trong đời sống tâm linh của người Việt. Từ xa xưa người Việt coi trọng đạo nghĩa nên thường nghĩ tới ngày giỗ của người thân hơn là chú trọng đến ngày “sinh nhật” của mình. Ngày nay, dù giới trẻ quan tâm nhiều đến ngày sinh nhật nhưng cũng không quên những ngày kỵ giỗ người thân trong gia đình. Đạo thờ cúng ông bà là một “Việt Đạo” thể hiện đạo lý làm người Việt Nam. Linh mục Cadière một Thừa sai ngoại quốc đến Việt Nam truyền giáo phải thốt lên: “Việt Nam là một dân tộc có tinh thần tôn giáo cao độ.”.

    Học giả P. Mus nghiên cứu về Việt Nam cũng thừa nhận rằng “Dân tộc Việt có một đời sống tâm linh cao, người Việt không làm việc, họ tế tự”. Thật vậy, người ngoại quốc ngạc nhiên khi thấy “Mỗi gia đình Việt Nam là một nhà thờ, nhà nào cũng có bàn thờ gia Tiên ở chính giữa nhà. Trong đời sống tâm linh Việt, Nhất cử nhất động, việc gì cũng tràn đầy tính chất thiêng liêng, thờ phượng, tế lễ, cúng giỗ với tất cả tấm lòng chí thành… Người Việt không tham dự vào các buổi lễ để được ban phát ân sủng, mà họ hiệp thông cầu nguyện như một người “Tư Tế” với tất cả tính chất thiêng liêng của một tôn giáo”.  Đây chính là điểm đặc thù độc đáo thấm đậm bản sắc dân tộc, tràn đầy vẻ nhân văn của triết lý văn hoá nhân chủ Việt Nam. Trong đời sống tâm linh Việt không chỉ hiển hiện ở bàn thờ Gia Tiên mà đền thờ ngự trong tâm thức mỗi người. Điều này thể hiện giá trị cao đẹp đặc trưng đời sống tâm linh của người Việt cổ. 

    Thờ cúng tổ tiên chính là đạo lý làm người, là cái gì thiêng liêng cao cả truyền từ đời này sang đời khác. Chính dòng sống tâm linh này đã góp phần bảo tồn dòng giống Việt. Truyền thống thờ cúng ông bà không còn là một tập tục, một tín ngưỡng đơn thuần mà đã trở thành đạo lý của dân tộc. Thờ cúng ông bà được xem như Tổ Tiên chính giáo của đạo làm người Việt Nam mà Nguyễn Đình Chiểu một sĩ phu yêu nước thế kỷ XIX đã ân cần nhắc nhở “Thà đui mà giữ đạo nhà, Còn hơn sáng mắt ông cha không thờ”. Người Việt Nam ai cũng biết uống nước phải nhớ nguồn vì “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn đạo hiếu mới là đạo con...” và “Ơn cha mẹ thề không lỗi đạo, Thờ sống sao thờ thác làm vầy. Công cha nghĩa mẹ xưa nay, Con nguyền ghi nhớ thảo ngay một lòng”.

    Đây chính là điểm độc đáo của dòng sống tâm linh Việt vẫn tiếp nối truyền lưu trong mỗi con người Việt Nam chúng ta hôm nay và mãi mãi về sau. Thật vậy bên cạnh đời sống thực tế khổ đau trước mắt, vẫn hiển hiện một đời sống tâm linh sâu thẳm, thấm đậm tính nhân bản hiện thực cao đẹp. Chính dòng sống tâm linh đó đã tạo cho mỗi người Việt Nam một quan niệm sống lạc quan yêu đời, an nhiên tự tại nhưng vẫn sẵn sàng hy sinh mạng sống cho nền độc lập thực sự, quyền tự do thực sự và sự ấm no hạnh phúc thực sự cho toàn dân Việt Nam. 

    Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm từ khi lập quốc đến ngày nay với gần một ngàn năm đô hộ của giặc Tàu, gần một trăm năm nô lệ giặc Tây và hơn nửa thế kỷ nô dịch chủ nghĩa vô thần, Hán hóa dân tộc. Trong suốt trường kỳ lịch sử, Hán tộc bành trướng với ưu thế của một nước lớn đất rộng người đông cùng với những thủ đoạn thâm độc quỷ quyệt xóa đi mọi dấu vết cội nguồn, bóp méo sửa đổi lịch sử khiến thế hệ sau chỉ biết tìm về lịch sử trong cái gọi là “Chính Sử” của đế quốc “Đại Hán”. Mỗi một triều đại Hán tộc đều chủ tâm thay đổi địa danh, thủy danh xưa cũ của Việt tộc cùng với ảnh hưởng nặng nề của gần một ngàn năm nô dịch văn hóa khiến nhiều người chấp nhận tất cả như một sự thật mà không một chút bận tâm. Thế nhưng dưới ánh sáng của chân lý khách quan trước thềm thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại, lịch sử vẫn là lịch sử của sự thật dù bị vùi lấp hàng nghìn năm bởi lớp bụi của thời gian cũng như bị sửa đổi, bóp méo, xuyên tạc bởi sức mạnh của Hán tộc thống trị.

    Bước sang thiên niên kỷ thứ ba, ánh sáng của sự thật soi rọi vào quá khứ bị che phủ hàng ngàn năm bởi kẻ thù Hán tộc bành trướng. Trước đây, nhân loại cứ tưởng tất cả nền văn minh Tây phương là của Hy Lạp La Mã, để rồi phải xác nhận nền văn minh đó đến từ nền văn minh của Trung Quốc. Cuối thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại lại ngỡ ngàng khi thấy rằng cái gọi là nền văn minh Trung Quốc lại chính là nền văn minh của đại chủng Bách Việt. 

    Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải nhìn lại toàn bộ lịch sử Việt để phục hồi sự thật của lịch sử để xóa tan đám mây mờ che lấp suốt mấy ngàn năm lịch sử bởi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc. Trong lịch sử nhân loại, có lẽ không một dân tộc nào chịu nhiều mất mát trầm luân như dân tộc Việt với những thăng trầm lịch sử, những khốn khó thương đau. Ngay từ thời lập quốc, Việt tộc đã bị Hán tộc với sức mạnh của tộc người du mục đã đánh đuổi Việt tộc phải rời bỏ địa bàn Trung nguyên Trung Quốc xuống phương Nam để rồi trụ lại phần đất Việt Nam bây giờ. Trải qua gần một ngàn năm đô hộ, với chiến thắng Bạch Đằng Giang năm 938 của Ngô Quyền mới chính thức mở ra thời kỳ độc lập của Việt tộc. 

    Trong suốt trường kỳ lịch sử, tuy bị Hán tộc xâm lấn phải bỏ trung nguyên xuống phương Nam nhưng nền văn hóa của Việt tộc đã thẩm nhập vào đất nước và con người Hán tộc để hình thành “Cái gọi là văn minh Trung Quốc”. Chính sử gia chính thống của Hán tộc là Tư Mã Thiên đã phải thừa nhận một sự thực là: “Việt tuy gọi là man di nhưng tiên khởi đã có đại công đức với muôn dân vậy...”.  

     “Vạn thế sư biểu, Người Thầy muôn đời” của Hán tộc là Khổng Tử đã phải ca tụng nền văn minh rực rỡ, xác nhận tính ưu việt của nền văn minh Bách Việt ở phương Nam. Trong sách Trung Dung Khổng Tử đã viết như sau: “Độ luợng bao dung, khoan hòa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử ứng xử như vậy… Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường đạo hành động như thế!” 

    Trong kinh “Xuân Thu”, Khổng Tử đã ghi lại bao nhiêu trường hợp cha giết con, con giết cha, cha cướp vợ của con, con cướp vợ của cha, anh chị em dâm loạn với nhau, bề tôi giết chúa... Điều này chứng tỏ Hán tộc du mục vẫn còn dã man mạnh được yếu thua, bất kể tình người, bất kể luân lý đạo đức. Thế mà chính sử Trung Quốc cứ vẫn miệt thị Việt tộc là man di, các Thứ Sử Thái Thú Hán vẫn lên mặt giáo hóa dân Việt trong khi Bách Việt ở phương Nam đã đi vào nền nếp của văn minh nông nghiệp từ lâu. 

     Chính vì vậy, “Vạn Thế Sư Biểu” của Hán tộc là Khổng Tử đã phải đem những nghiên cứu, sưu tập, học hỏi tinh hoa của nền văn minh Bách Việt phương Nam đặt để thành những tôn ti trật tự, những giá trị đạo lý để giáo hóa Hán tộc du mục. Tất cả năm bộ Kinh Điển, “Ngũ Kinh” được xem như tinh hoa của Hán tộc đã được chính Khổng Tử xác nhận là ông chỉ kể lại “Thuật nhi bất tác”, chép lại của tiền nhân chứ không phải do Khổng Tử sáng tác. 

     Ngày nay, sự thật lịch sử đã được phục hồi khi giới nghiên cứu đều xác nhận hầu hết các phát minh gọi là văn minh Trung Quốc, từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh kim loại, kỹ thuật đúc đồng, cách làm giấy, cách nấu thủy tinh, cách làm thuốc súng, kiến trúc nóc oằn mái và đầu dao cong vút... tất cả đều là của nền văn minh Bách Việt. Chính Hán Hiến Đế, vị vua cuối cùng của triều Hán đã phải thừa nhận như sau: “Giao Chỉ là đất văn hiến, núi sông hun đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất”.

     Bước sang thế kỷ XX, dân tộc Việt chưa tháo gỡ được cái ách thống trị của thực dân Pháp thì chủ nghĩa Cộng Sản đã tràn vào Việt Nam đưa dân tộc Việt vào thế khốn cùng. Cộng Sản Việt Nam đã núp dưới chiêu bài giải phóng dân tộc để bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản, tạo cơ hội cho tư bản nhân danh thế giới tự do nhảy vào can thiệp, ngăn chặn làn sóng đỏ tràn xuống Đông Nam Á. Hậu quả là hàng triệu người đã phải hi sinh oan uổng cho một cuộc chiến vô nghĩa để rồi gần chín mươi triệu đồng bào đang phải sống dở chết dở dưới chế độ cộng sản bạo tàn phi nhân của tập đoàn Việt gian Cộng sản, những tên “Thái Thú xác Việt hồn Tàu” bất nhân hại dân bán nước. 

     Với chủ trương nô dịch của cộng sản, biết bao thế hệ Việt Nam bị nhồi nhét nền văn hóa Mác-Lê phi nhân tàn bạo mà hậu qủa là tạo ra những cỗ máy vô hồn, những con người vô cảm lạnh lùng mất gốc, công cụ phục vụ cho chế độ. Trong khi đó, hơn 4 triệu đồng bào Việt Nam tỵ nạn Cộng sản trên khắp thế giới nên thế hệ con em chúng ta ở hải ngoại phần nào bị ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai mang tính thực dụng, quên đi bản sắc văn hóa truyền thống Việt chan chứa tình người. Chính vì vậy, vấn đề hết sức khẩn thiết là làm sao phải phục hoạt văn hóa Việt, phục hưng minh triết Việt để tẩy rửa mọi ý hệ ngoại lai, mọi ý đồ truyền bá văn hóa “Trung Quốc” đang được “những tên Thái thú mới,” “xác Việt hồn Tàu” đang thi hành mệnh lệnh của quan thầy Trung Cộng ra sức tuyên truyền nhồi sọ, Hán hóa dân tộc Việt. 

     Hơn lúc nào hết, tìm hiểu về huyền thoại Rồng Tiên, khởi nguyên dân tộc Việt Nam thời Lập Quốc với Quốc Tổ Hùng Vương là một yêu cầu lịch sử hết sức cần thiết. Trong ý hướng đó, chúng tôi cố gắng tóm gọn lịch sử Việt từ thời lập quốc cho đến ngày nay trong tác phẩm “Việt Nam Nước Tôi” để thế hệ trẻ Việt Nam hiểu rõ tường tận lịch sử Việt Nam. 

     Một khi thế hệ con em chúng ta hiểu rõ về bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc Việt, về đời sống văn hoá tâm linh Việt, về những lễ tết, hội hè đình đám của dân tộc Việt thì thế hệ con em chúng ta sẽ thấy rõ hơn giá trị cao đẹp của bản sắc văn hóa truyền thống nhân bản Việt. Con em chúng ta có quyền tự hào là “Con Rồng Cháu Tiên” của một dân tộc có lịch sử lâu đời như danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi đã tuyên xưng: “Chỉ nước Đại Việt ta từ trước, mới có nền văn hiến ngàn năm”. 

    Chúng ta phải làm sao xứng đáng với tiền nhân, chúng ta phải làm gì để không hổ thẹn với hồn thiêng sông núi, với anh linh của những anh hùng liệt nữ Việt Nam. Toàn thể đồng bào trong nước và Hải ngoại cùng nắm chặt tay nhau, muôn người như một cùng đứng lên đáp lời sông núi để cứu quốc và hưng quốc, tô điểm giang sơn gấm vóc, xứng danh ngàn năm dòng giống Lạc Hồng.

     Chúng ta hãnh diện được làm người Việt Nam thuộc một đại chủng lớn của nhân loại để ngẩng cao đầu sánh vai cùng các cường quốc trong thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại. Chính niềm tự hào dân tộc sẽ thôi thúc lòng yêu nước của toàn thể đồng bào Việt Nam chúng ta, nhất là thế hệ trẻ trong nước và Hải ngoại để vươn lên làm một cuộc cách mạng Đại Việt Nam: “Cách Mạng Hóa - Hiện Đại Hóa Việt Nam”. Điều kiện khách quan của lịch sử đã tạo cho dân tộc chúng ta một thế hệ trẻ có đầy đủ tri thức thời đại để hoàn thành một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật siêu vượt, đưa đất nước chúng ta bước lên sánh vai cùng các cường quốc trong thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại.


Tổ Quốc Việt Nam Trường Tồn                                                                                                             Dân Tộc Việt Nam Bất Diệt                                                                                                        
Việt Nam Muôn Năm

Mùa Giỗ Tổ 4.893 Việt Lịch (2014 DL)


PHẠM TRẦN ANH

Tuesday, November 29, 2016

SÁT NHÂN BẨM SINH !!!      Trong các trại tù Cộng Sản mà tôi đã đi qua, tên giám thị Phi Sơn là một tên khát máu nhất mà theo nhà tội phạm học Lombroso thì y quả là loại người “Sát nhân bẩm sinh”. Phi Sơn là bí danh của y còn tên thật là gì thì không ai rõ, bí danh này có từ khi y còn là trưởng ban ám sát tỉnh Lâm Đồng, một tay y đã giết biết bao nhiêu quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Hòa và cả đồng chí của y nữa.
     Dáng người dị dạng cao lều khều, lúc đi lưng hơi còng, cặp mắt đỏ ngầu sâu hoắm, đôi lông mày rậm và gò má nhô lên, mặt lạnh như tiền, hai hàm răng lúc nói chuyện san sát như nghiến lại nên dường như tù nhân nào cũng không dám nhìn thẳng vào mặt y. Trong lúc uống rượu cao hứng say sưa kể lại chính tay y đã giết không biết bao nhiêu là người … Nghe nói có lần y bắt một viên đại uý ở chi khu Đơn Dương tỉnh Lâm Đồng thì phải, sau khi đánh đập tra tấn không khai thác gì được, y tức lắm... Y trói hai tay vào một gốc cây rồi lấy lưỡi lê khoét 2 mắt cho máu chảy ra cho đến chết. Mấy tuần sau, khi tiểu khu Tuyên Đức hành quân mới tìm được thì xác viên Đại Úy đã thối rữa, dòi bọ bò lổn nhổn, ruồi kiến bu quanh!
      Viết đến đây, lòng như chùng xuống, lắng đọng đau buồn rồi niềm căm phẫn trào dâng cái chủ nghĩa vô thần cuồng tín với những "Động vật Cao cấp Phi Sơn", vô hồn vô cảm bất nhân hại dân bán nước đang thống trị dân ta.
      Chính ông cựu Tổng trưởng Thông tin Phạm Xuân Thái đã kể cho tôi nghe về cách đối xử “nhân đạo” đầy tình người của y đối với những người tù bệnh hoạn ốm đau. Số là phe ta ở các trại, sau một thời gian lao động khổ sai ai cũng đau ốm không nhiều thì ít. Khi khai ốm, mang chăn mền lên phòng “tắm hơi” là một nhà nhỏ, che và lợp bằng tôn nên buổi trưa dù ở Bảo Lộc vẫn nóng mồ hôi nhỏ giọt. Tiêu chuẩn mỗi người được lưng chén cháo khoai mì, một lon guigoz nước mỗi ngày. Trưa hôm đó, không thấy nhà bếp phát cháo, anh em xôn xao ngơ ngác hỏi thì biết đó là lệnh của “Ban Phi Sơn” chỉ cho anh em một chén nước luộc củ mì. Lúc sắp điểm danh vào phòng, tên trật tự Tường được lệnh thu hết gậy chống, mùng mền và nói ai đi được thì đi, không đi được thì bò về phòng. Nếu không về tối nay không bảo đảm tính mạng...
       Ai nghe cũng lạnh người vì vốn biết tên này giết người không gớm tay chút nào. Thế là chẳng ai bảo ai đều nằm xuống bò lê bò lết, kẻ trước người sau giống như cái trò thể thao “khuyết tật” quay chậm bây giờ. Thật là cười ra nước mắt, trông cảnh này ai mà không thương nhưng cũng thấy tức cười vì trong đó cũng có một vài anh em mình cũng giả ốm để gặp nhau nói chuyện đỡ buồn!
      Năm ngoái, một anh hình như là cảnh sát đặc biệt ở tù lâu quá, khi lên cơn chửi rủa Hồ chí Minh thậm tệ. Phi Sơn bắt lên, chính tay y lấy kìm bẻ gẫy mấy cái răng máu me đầy mồm, anh bạn mình chỉ kịp la ối một tiếng rồi ngất đi. Tên giám thị gian ác cười ha hả rồi chửi “Địt mẹ mày, sao mày không chửi bố mày mà chửi bác tao... !”. Anh bạn nhà mình đau quá, tá hoả tam tinh rồi hình như từ đó bớt chửi hơn, có chửi thì lải nhải trong miệng chứ không thấy gào lên la làng như trước!
      Tên Phi Sơn này thường cúi đầu đi lầm lũi một mình như bóng dáng của tử thần, lúc nào cũng lầm lì không nói mà đã nói ra là cùm, cùm cho nó rục xương, là giết chóc mà chưa bao giờ nghe y nói thả ai ra bao giờ. Chính Phi Sơn đã ra lệnh cùm một anh cán binh chiêu hồi đến chết, khi khiêng xác ra thì thấy đầu chỉ còn trơ xương trán, sau gáy ót sau bẹt ra, người gầy ốm tong teo còn hơn dân Somali chết đói bên Phi Châu.
     Khi vừa viết đến đoạn này thì tôi nhận được một bài nghiên cứu về tâm lý thần kinh của Nguyễn Quang, một cựu tù nhân ở Thung lũng tử thần. Trong đó có đoạn viết về tên hung thần khác mà theo nhà tội phạm học Lombroso gọi là “sát nhân bẩm sinh” như sau: “Lâm cán bộ an ninh trạc 30 tuổi, trong ánh mắt sâu chỉ có màu trắng và một chút con ngươi đen muốn chìm hẳn, dường như y luôn có ảo giác quyền lực: Đó là quyền giết người, y hầu như không có nụ cười, con người ốm o, ho hắng khục khặc này lúc nào mở miệng ra là “Cùm”, cùm … cho nó chết. Nét chung của bọn cán bộ trẻ nầy là không có từ nào về sống còn, sống sót, sống với, cứu người, giúp người … Đó là những từ quá xa lạ với chúng.
      Những ai đã từng qua trại Thung lũng tử thần, thật sự đều rùng mình khi nhớ lại từng tên cán bộ an ninh ở đây, mỗi tên đồ tể đó đều có nét riêng của sự ác khác nhau … và người ta không ghê  tởm sự hôi thúi của xác chết bằng chính mùi tanh lạnh lùng của kẻ giết người, trước cái chết của đồng loại chúng còn nhân danh chuyên chính vô sản lạnh lùng nói: “Tao sẽ cùm mày cho mày chết rục xương. Chúng mày phải chết, chết hết...     Giết một người đã là khác thường, giết nhiều người lại nhân danh chính nghĩa ư? Đó quả là thứ ảo giác của triệu chứng tâm thần thời đại cộng sản !!!”.      Trại Đại Bình còn giam giữ nhiều anh em Thượng trong đó có anh K’ Jip án chung thân. Bị cùm còng lâu ngày, anh K Jip thường kêu tên y chửi nên bị cúp phần ăn không cho uống nước. Chính tên Phi Sơn đã ra lệnh cùm còng anh K’Jip cho đến chết không tháo cùm còng. Cuối cùng chịu không nổi anh đã chết vì suy kiệt, khi anh em tù vào khiêng xác thì thấy chỉ còn một hình nhân với bộ xương cách trí, ống quyển và chân sưng lên lở loét đỏ lòm, dòi bọ bò lúc nhúc. Lúc anh em bước vào nâng người anh ta dậy thì nền xi măng nhám nhúa kéo lại mảng da lưng bầy nhầy máu mủ đông đặc. Tên cán bộ một tay bịt miệng một tay mở khoá không được vì rỉ sét lâu ngày nên bảo anh em lấy xà beng vào tháo giỡ cả cái cùm, lấy chiếu bó lại rồi đem đi chôn cùng với người anh em tù xấu số này!
      Suốt mấy ngày cả trại anh em ai cũng ngơ ngác đau không ai muốn nói với ai điều gì, chỉ biết im lặng thở dài ngao ngán … Không biết bao giờ tới phiên mình hắt hiu hiu hắt như anh bạn K’Jip thân thương của mình đây. Trên thế gian có còn cảnh tượng nào đứt ruột hơn nơi địa ngục trần gian này hở trời?
  CẮT GÂN TRA TẤNRỒI MỚI ĐẬP ĐẦU TÙ CHO ĐẾN CHẾT!!!      Thời gian ở trong tù, thi sĩ Tú Kếu có làm bài thơ tuy lấy tên là “Vô đề”, đó là tiếng kêu bi thương, lời phản kháng trước những hành động phi nhân của những con người Việt gian Cộng sản vô cảm vô hồn. Làm sao mọi người chúng ta có thể biết được cộng sản dã man vô nhân đạo đến chừng nào nếu không có những chứng nhân của lịch sử. Tú Kếu là một chứng nhân sống đã từng chứng kiến cảnh chúng tử hình những người anh em của mình. Chính Tú Kếu đã nhìn thấy cảnh anh em mình cong người lên lãnh hàng loạt đạn vào người... trong u uất nghẹn ngào...
      Khoảng tháng 8 năm 1980, anh em tù nhân chính trị đội 21 trại Đại Bình tổ chức vượt trại, một số anh em bệnh hoạn không đủ sức vượt trại nên khai bệnh ở nhà trong đó có Tú Kếu. Hồi đó mỗi đội đi lao động thường có 1 tên quản giáo đeo súng ngắn, 2 hoặc 3 tên võ trang cầm súng AK đi theo. Theo đúng kế hoạch, anh em đã sắp xếp cho 2 anh em khoẻ đi kèm một tên cán bộ võ trang. Lúc toán đầu của đội băng ngang qua cây cầu cây Đại Bình là khúc quanh, bọn công an đi sau bị che khuất là toán cảm tử đi đầu nhảy ra chụp tên võ trang. Cũng lúc đó 2 toán sau cũng đồng loạt bay ra chụp 2 tên còn lại... Tất cả mọi tính toán đã thành mây khói do một thoáng do dự nên khi Long nhảy ra ôm tên võ trang thì tên võ trang dẫn toán thứ hai đã đi qua khúc quanh, nó nhìn thấy nên nhảy ra bắn xâu táo chết luôn tên cán bộ. Bọn công an tàn sát thẳng tay, 6 xác anh em máu me đầy người nằm ngổn ngang, trong khi cả đội chỉ biết nằm úp xuống nín thở phó thác số mệnh cho sự rủi may may rủi...
       Ban giám thị ra lệnh tập họp dẫn đội về trại, sau khi nhập trại bọn an ninh đánh đập anh em tàn nhẫn để khai thác. Tên giám thị Phi Sơn ra lệnh dẫn 4 người anh em ra khỏi trại, cả đội hồi hộp đợi chờ suốt đêm không thấy về chắc là anh em bị chúng đem đi nhốt ở xà lim. Sáng hôm sau xuất trại mới nghe anh em lao động tự giác kể lại là họ phải đi chôn 4 người anh em, tay chân bị cắt gân đầu gối, cắt nhượng gót chân, đầu bị đập bể nát thảm thương vô cùng. Cả mấy tuần sau anh em ăn không vô, làm sao nuốt nổi miếng cơm như còn đọng ngay nơi cuống họng, không phải một con ngựa đau mà tới mười con người, mười người anh em đồng chí hướng đã tức tưởi hy sinh thảm thiết. Tú Kếu đã nghe chính một cán bộ có tình cảm với anh em tù chính trị kể lại kể lại cảnh tra tấn bằng cách lấy lưỡi lê cắt gân chân để khảo tra rồi đập đầu cho đến chết …  Những cảnh tượng dã man không thể tưởng tượng được, những hờn căm u uất nghẹn ngào đã được Tú Kếu diễn tả qua bài thơ “Vô đề” chính là bản cáo trạng của cộng sản bạo tàn trước lịch sử, trước lương tri của nhân loại văn minh tiến bộ hôm nay:
               Chính đêm ấy ... mảnh trăng liềm đẫm máu             Tưởng chừng như thân thể bạn bè tôi              Uốn cong lên, khi bị bắn tơi người              Miệng nguyền rủa, nhưng không còn tiếng nói...              Môi mấp máy, đúng môi còn mấp máy              Như muốn tuôn dòng … thác đổ căm hờn              Như muốn gào to … Không thể dã man hơn...              Không thể dã man hơn … quân khốn kiếp!      Thời gian xảy ra vụ thảm sát Đại Bình, tôi và linh mục Trần Thế Phiệt bị giải giao lên xà lim tử hình ở Đà Lạt lấy cung vì tội âm mưu tuyên truyền chống phá trại. Tôi viết cho linh mục Phiệt về “Đường hướng cách mạng hoá hiện đại hóa Việt Nam”, không hiểu do sơ ý thế nào mà linh mục Phiệt giấu trong cuốn giấy vệ sinh bị bọn cán bộ an ninh tìm thấy khi xét phòng. Tôi được anh em thông báo nên trong lúc cung khai tôi một mực tử thủ lời cung là chỉ viết lại để nghiên cứu bài viết chủ trương của thủ tướng Jamaica đăng trên mẩu báo nhân dân tôi nhặt được cách đây khoảng 1 năm. Lúc dọn phòng tôi để quên trong cuốn giấy vệ sinh chứ không viết để gửi cho ai cả. Tôi cố kéo dài cung cán may ra thời gian có thể cứu sống chứ lần này thì ăn gà là cái chắc rồi.  Sau gần một tháng trời, 2 tên cán bộ an ninh thay phiên hỏi cung ngay cả giữa nửa đêm không cho tôi một lúc nào yên ... Cuối cùng, tên Truyền “cán bộ giáo dục”, bí thư chi bộ trại tù tức quá chỉ mặt tôi nói: “Chắc Phạm Trần Anh sợ không sống nổi trong bốn bức tường đá nên viết lại cho Trần Thế Phiệt tiếp nối sự nghiệp chống cộng chứ gì. Tôi đã tìm đọc hết báo chẳng có thủ tướng nào cả mà chỉ có Phạm Trần Anh viết ra mà thôi … Tôi nói với anh lần chót, nếu anh thành khẩn khai báo thì tôi lấy danh dự bảo đảm với anh là sẽ khoan hồng cho anh. Còn nếu anh ngoan cố thì anh làm hành chánh, anh biết rồi đấy, chỉ cần vài tờ báo cáo là xong hồ sơ…”.  Tôi biết là tên này lấy vụ bắn anh Quý ở hàng rào ra hù doạ thôi chứ bố bảo nó cũng không dám bắn vì chúng còn phải khai thác tìm ra anh em trong tổ chức mà chúng gọi là “đồng bọn”. Tôi nói với y là “Tôi cám ơn cán bộ nếu cán bộ dám bắn tôi để mẹ tôi bớt khổ, vợ con tôi bớt khổ vì lo lắng cho tôi ...”. Nói xong tôi xin phép đi tiểu. Tôi đánh ván bài tẩy, mình tẩy “xì” mà nên bắt luôn tẩy “sất” của y, nó chưa khai thác được cung cán thì làm sao mà dám bắn. Tôi đứng dậy đi ra gần hàng rào đứng đái thoải mái. Đái xong tôi đứng đó đưa mắt nhìn lên ngọn núi Đại Bình nổi bật trên nền trời xanh như chờ đợi loạt đạn kết thúc đời mình nhưng chẳng thấy động tịnh gì, mấy phút sau thì nghe y kêu lớn “Thôi về phòng”. Không khai thác được gì nên Trại quyết định giải giao lên Ty Công an Đà Lạt, tên giám thị Phi Sơn tuyên bố trước trại là: "Chung thân mà còn chống thì tử hình, các anh chống mắt mà xem thằng Phạm Trần Anh có trở về không?".
      Một năm sau, chúng tôi được đưa về lại trại Đại Bình trước sự mừng vui của anh em trong lúc ban giám thị trại tức tối ra mặt. Mỗi lần trại báo động là bọn võ trang chạy tới mở cửa sổ xà lim kêu tên tôi “Phạm Trần Anh ngồi dậy” rồi chúng chĩa súng thẳng vào ngực tôi rồi lên đạn AK nghe xoạch một cái khiến cả phòng xanh máu mặt. Bản thân tôi lúc đó cũng choáng váng nhưng rồi chúng lại đóng cửa sổ lại, từ đó một tháng khoảng 4,5 lần chúng khủng bố tinh thần tôi liên tục mỗi khi có tiếng kẻng báo động. Chính vì vậy anh em nhắn vào nói tôi phải cẩn thận, có đau ốm thì đợi bác sĩ phe ta vào chữa trị đừng khai báo gì với y tá trại. Tôi vẫn bình thản chấp nhận vì tin vào cái số chưa chết của mình, đã hai lần thoát bản án tử hình trông thấy mà chính tôi cũng không ngờ là tôi có thể qua được …





Saturday, November 26, 2016




TÌ TÚC LÃNH KÌM ƯU QUỐC SỰ

Ôm chân cùm lạnh đêm Đông,
Nửa mong việc nước, nửa trông tin nhà …

     Hồi còn là học sinh ngồi dưới mái trường thân yêu nghe thầy giảng về Truyện Kiều của Nguyễn Du, lắng nghe tâm trạng “Hoài Lê” của Đại thi hào Nguyễn Du vẫn không thể nào hiểu nổi với cái vốn liếng nghèo nàn về Hán Việt của một học sinh Trung học:

“Quốc phá gia vong, gia quốc lệ ..
Lục tuần lao ngục tử sinh tâm ...”.

     Thì ra đại thi hào cũng đã ở tù vì thù nhà nợ nước với tấm lòng thanh thản không biết sống chết là gì … Thế nên nổi hứng dám liều làm 2 câu thơ đồng cảm với đại thi hào một phen:

“ Quốc phá gia vong, vong quốc hận..
Thập niên diện bích bất tử tâm! ”

     Chẳng phải là can đảm hay ho gì nhưng ở tù lâu quá, ngồi nhìn trừng trừng vào mấy bức tường suốt gần 9 năm trời nên không phải không sợ chết như đại thi hào mà là lì đòn, tới đâu thì tới, điếc không sợ súng nữa thế thôi! 

     Trong lịch sử văn học Việt Nam có rất nhiều người yêu nước nhưng chỉ có hai danh nhân văn hoá Việt luôn luôn thao thức trăn trở về vận nước, luôn luôn nhớ về cố quốc về lãnh thổ xa xưa của Việt tộc. Đại thi hào Nguyễn Du trong “Bắc Hành Tạp Lục” gồm 109 bài thơ chữ Hán, tất cả đều nói lên tâm tư hoài cổ tìm về về lịch sử xa xưa của Việt tộc như  Cửu Lê, Lũng Thục, Kinh Châu, Dương Châu, Trường Sa, hồ Động Đình, Lưỡng Quảng …. Đặc biệt Nguyễn Du đã biểu lộ tâm trạng nuối tiếc, tấm lòng của môt con dân đất Việt trong bài “Triệu Vũ Đế cố cảnh” như sau:

“Thiên niên cổ mộ một Phiên Ngu”

mà kẻ hèn này xin tạm dịch là: 

“Còn đâu cổ mộ Phiên Ngung một thời ..!”.

     Khi đi sứ sang Tàu, đứng trước cảnh cũ người xưa, nhìn lại giang sơn gấm vóc của tiền nhân nay đã không còn nữa. Nguyễn Du đã cảm khái bài “Đổng Tước Đài”. Trong bài “Phản Chiêu Hồn”, “Vịnh Khuất Nguyên”, vịnh những địa danh xưa cũ của Việt tộc. Nguyễn Du đã nói lên tâm sự u hoài hướng vọng về cố hương, quê cha đất tổ của con cháu Rồng Tiên trước cảnh suy vong của Văn Lang xưa cũ nên mới cay đắng thốt lên: “Trải qua một cuộc bể dâu, những điều trông thấy mà đau đớn lòng ..!”. Đại thi hào Nguyễn Du cũng làm thơ vịnh Hạng Võ, người anh hùng khí đoản của Việt tộc đã chịu thất bại trước một Lưu Bang tầm thường của Hán tộc như sau:

Cập thức bại vong phi chiến tội,
Không lao trí lực dữ thiên tranh 
Cổ kim vô ná anh hùng lệ,
Phong vũ không văn sất sá thanh!

Lẽ được thua vốn tùy vận số,
Sức người sao cưỡng nổi số trời 
Xưa nay anh hùng thường nuốt lệ,
Gào thét gầm vang át gió mưa!

     Tôi còn nhớ mãi truyện kể về mối tự tình dân tộc của Nguyễn Du và một chủ nhân lò gốm cũng là người Việt cổ bên Giang Ninh ở Hoa Nam Trung Quốc. Chủ nhân nhờ thi hào viết lên mấy vần thơ trên bộ đồ gốm để làm kỷ niệm nhân gặp người đồng bào tri kỷ của mình. Nguyễn Du cảm khái đặt bút viết ngay 2 câu:

“ Nghêu ngao vui thú yên hà,
Mai là bạn cũ Hạc là người quen”.

      Mai và Hạc là biểu trưng Việt tộc của hoạ phái Hoa Nam khiến chủ nhân hết sức cảm động, ôm Nguyễn Du mà khóc rồi hủy luôn khuôn đúc. Trước lúc chia tay, chủ nhân lò gốm đã trịnh trọng biếu Nguyễn Du bộ tách trà để làm kỷ niệm gặp lại người đồng bào Việt “văn hay chữ tốt” của mình!

     Đại thi hào Nguyễn Trãi cũng phiêu dạt sang Trung Quốc để tìm theo cha là Nguyễn Phi Khanh bị quân Minh bắt đưa sang Tàu. Nhờ đó, Nguyễn Trãi tìm lại những địa danh xưa cũ của Việt tộc nên khi về nước, Thi hào Nguyễn Trãi đã khẳng định trong áng kim cổ hùng văn "Bình Ngô Đại Cáo": 

“Duy ngã Đại Việt chi quốc,
Thực vi văn hiến chi bang.”

“Chỉ có nước Đại Việt ta từ trước,
Mới có nền văn hiến ngàn năm ...”.

     Sau khi về nước, thi hào Nguyễn Trãi đã viết bộ "Dư Địa Chí" của Việt Nam trong đó danh nho Nguyễn Trãi đã xác định như sau: “Trong sách chương của Thiên Vương có gọi Việt Nam, Nam Việt, Giao Chỉ, An Nam, Nam Bình, ngày nay cũng xưng là Việt Nam”.

     Đại Thi hào từng đêm ngồi ngắm sao Ngưu Đẩu ở phương Bắc để hướng vọng về Trung nguyên của Tổ tiên Bách Việt thuở xa xưa: “Dạ y Ngưu Đẩu vọng Trung Nguyên”. Đặc biệt, đại thi hào Nguyễn Trãi cũng ngồi ôm chân cùm mà lo âu về vận nước nên mới xuất khẩu thành thơ bài “Tì túc lãnh kìm ưu quốc sự!”. 

    Hồi còn là học sinh trường Trung học Nguyễn Trãi, tôi rất thích áng văn bất hủ “Bình Ngô Đại cáo” của danh nhân văn hoá Nguyễn Trãi, mãi đến bây giờ tôi mới cảm thấy có sự đồng cảm lạ lùng và thật sự thán phục chí khí của Đại thi hào Nguyễn Trãi. Suốt đêm nằm ngủ không được miên man nhớ tới Ức trai Tiên sinh “Quán tưởng Ức Trai dạ bất miên” nên diễn ý thành mấy câu thơ như sau:

Ôm chân cùm lạnh đêm đông,
Nửa mong việc nước nửa trông tin nhà
Ức Trai Nguyễn Trãi thi ca,
Ngàn năm văn học nước nhà lưu danh ...”.

PHẠM TRẦN ANH
* Thơ của danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi

Tuesday, November 15, 2016


NHÂN DÂN TA RẤT ANH HÙNG!

     Nhiều lúc ngồi nghĩ lẩm ca lẩm cẩm không chừng mà lại đúng để tự an ủi mình rằng có lẽ kiếp trước mình cũng là tay sát thủ “Độc cước đại hiệp”chăng? Với cú đá song phi sát thủ chắc chết nhiều người lắm nên kiếp này mới bị cùm hai chân banh ra, cứ nằm ngửa chờ chờ không nằm nghiêng được gần bẩy năm trời! Lồng ngực và hai lá phổi như xẹp lép dán xuống nền ciment. Anh em ai cũng có cảm giác như mình đang ngồi trên một phi thuyền đi vào không gian vô định, không biết bao giờ đáp xuống hoặc bị nổ tung bất cứ lúc nào?

     Lúc đó ngoài giấc mơ chiến thắng mình còn mơ ước nhỏ nhoi là được ngủ nghiêng một giấc, đơn giản thế thôi. Vậy mà giấc mơ đó 7 năm sau khi ra khỏi xà lim mới thành hiện thực:“Bẩy năm mơ giấc ngủ nghiêng, hết đêm lại sáng xích xiềng chân tay...”. Ừ xích thì xích, xiềng thì xiềng có chết thằng Tây nào đâu mà sợ. Máu anh hùng lại nổi lên thách thức ngạo nghễ:

“ Chân cùm tay xích đầu sao xích,
Xích sẽ có ngày xích phải tung ..!

Tư tưởng tinh thần làm sao xích,
Xích sẽ đến ngày xích phải tung ...!
A ha .. A ha ..!

     Thỉnh thoảng đôi lúc thấy mình được nối gót tiền nhân bỗng không thấy buồn nữa mà chỉ buồn năm phút thôi nên lại rung đùi thấy khoái chí. Ngày xưa chỉ có cấp tướng mới có 1 trung đội lính gác còn ta bây giờ “Nước mất nhà tan” rồi mà còn có cả một đại đội Việt cộng chăm lo canh gác, cơm bưng nước rót đầy đủ còn gì sướng hơn, bèn xụất khẩu thành thơ luôn: “Cơm bưng nước rót canh đưa, Hỏi chi sướng vậy xin thưa ủ tờ. Ủ tờ là ở tù đó quí vị ạ ...

     Thế rồi một buổi sáng nọ, sau bốn tháng nằm xà lim mới được cho ra tắm 1 lần rồi ngồi phơi nắng gần “Tứ Giác Đài”, anh em thường gọi đùa như vậy vì khu xà lim có 4 phòng bê tông kiên cố, tường dày hơn 40 cm … chỉ thua Ngũ giác đài một chút thôi. Tình cờ bạn ta thi sĩ Tú Kếu, người một thời nổi tiếng vì xem: “Sự đời như cái lá đa, đen như mõm chó chém cha sự đời ...” ở đâu đi ngang qua, vẫn dáng người khô mộc đại nhân, mặt vêu lên râu ria lổm chổm và vẫn phong độ như ngày nào. Người đi ngang ta, mặt vẫn nhìn thẳng đọc liền một câu như đắc ý lắm:

“Nhân dân ta rất anh hùng ...

     Lát sau lại làm bộ đi ngang qua lần nữa, sợ mấy thằng chèo nhìn thấy nên mặt vẫn nhìn phía trước tỉnh bơ:

Đảng ta lãnh đạo, nửa khùng nửa ngu!”

     Tôi ngồi nghĩ mãi chẳng biết nói gì với bạn ta, mà mấy chú Cán Ngố nó ngồi nhìn chằm chặp nên tôi cũng ngồi tỉnh bơ lải nhải một mình rồi đợi bạn ta đi ngang vội đọc cho Tú Kếu nghe:

“Nhân dân ta rất cần cù …
Đảng ta lãnh đạo, nửa ngu nửa khùng ..!”

và cứ thế cứ anh hùng rồi lại nửa khùng nửa ngu, lại rất cần cù rồi đảng ta lãnh đạo nửa ngu nửa khùng … thế mà cũng đã bao năm trời trôi qua trong uất hận khôn nguôi!

                                                             VUỐT MẶT ...                                                               
LUỐNG ĐOẠN TRƯỜNG!

     TRONG NHỮNG GIỜ PHÚT SÀIGÒN HẤP HỐI đó, tôi đã quyết định ở lại. Lẽ nào cả một chế độ lại suy xụp mau chóng như thế này sao? Tôi không tin điều đó nên quyết định cùng với một số anh em tìm về miền Tây xem còn nơi nào chiến đấu mình sẽ vào đó chiến đấu tới cùng. Trong khi bà con chạy ngược lên Sài Gòn ra hướng biển thì tôi và Phan Lạc Giang Đông chạy ngược xuống Long An … để rồi cuối cùng thì chẳng còn gì...  Còn gì nữa đâu khi tướng Nguyễn Khoa Nam đã tự sát đúng nghĩa của một viên tướng thủ thành như các danh tướng Phạm văn Phú, Trần văn Hai, Lê văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ của quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

                         Gươm đàn hề nửa gánh,
                         Sầu cố quốc khôn khuây …
                         Nam nhi hề chí khí,
                         Vuốt mặt luống đoạn trường!

     Những ngày tháng buồn phiền, hoang mang lo sợ của anh em quân nhân công chức Việt Nam Cộng Hòa sau 1975, nhất là khi cái gọi là “chính quyền cách mạng lâm thời” ra thông cáo kêu gọi đi trình diện. Anh em chúng tôi ngồi la liệt trong sân sau của Toà Đô Chánh Sài Gòn, mỗi người một tâm trạng không nói ra nhưng ai cũng hoang mang lo sợ. Tôi ngồi bên mấy người bạn, anh em ngao ngán nhìn nhau. Thấy tôi ngồi hút thuốc lá liên tục hết điếu này đến điếu khác, ai cũng hỏi Phạm Trần Anh tính sao? Tôi cười hề hề… đã đến lúc này còn tính sao nữa. Chấp nhận thương đau tới đâu thì tới.

     Khi đi trình diện mỗi người phải kê khai lý lịch “Ba đời của gia đình” và 3 người bạn thân nhất. Trời xui đất khiến sao đó, tôi đem ngay ông cậu em bà ngoại của tôi trước theo Việt Minh sau trở thành đảng viên cộng sản đã chết ở Côn đảo vào lý lịch. Tôi lại khai 3 người bạn thân, thực ra là chỉ nghe tên chứ có quen biết gì đâu là Trần Quang Long, Phan Duy Nhân và Trần Triệu Luật trước 1975 là những sinh viên Cộng Sản hoặc khuynh tả thân cộng tôi cũng không rõ lắm. Tết Mậu Thân cả ba đã vào mật khu của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam đã chết rồi thì lấy ai mà kiểm chứng đây?.

     Chúng tôi ai cũng ít nhiều lo lắng nhất là lúc chờ đợi gọi tên từng người vào trình diện thật lâu mà không thấy ra nên lo sợ không biết số phận người anh em mình ra sao? Đến lúc gọi tên tôi vào trình diện tôi mới vỡ lẽ ra. Vừa bước vào phòng tôi thấy một anh Việt cộng xanh xao gầy còm không còn bám cành đu đủ nữa mà ngồi chồm hổm kiểu nước lụt trên cái ghế trước mặt là cái điếu cày thuốc lào loang lổ vết bẩn trên bề mặt ống tre. Ông ta không nhìn tôi mà cúi mặt đọc từng chữ trên tờ khai lý lịch của tôi một hồi lâu mới cất tiếng hỏi: “À, anh làm quản đốc coi tù hả?”. 

    Tôi giật mình té ra anh chàng này chắc chắn là tù Côn đảo, Phú Quốc rồi nên bị ám ảnh bởi Quản đốc Trung tâm Cải huấn coi tù rồi, không khéo nó trả đòn thù thì khốn nạn! Tự nhiên tôi nhớ tới ông cậu em bà ngoại đi theo Việt Minh bị bắt giam ở Côn Sơn nên buột miệng hỏi: “Chắc là ông có ở tù ngoài Côn đảo?”. Anh ta gật đầu, tôi hỏi tiếp: “Vậy anh có biết ông Lưu Chí Hiếu không?” Ông ta nói ngay như một cái máy: “Ai mà không biết anh Hai Hiếu … mà sao anh biết anh Hai Hiếu?”. Tôi trả lời ngay: “Ông ấy là ông cậu ngoại của tôi”. Nghe vậy, chắc ông ta tưởng tôi thuộc gia đình “cách mạng” đây, với tay lấy cái ống châm điếu thuốc, rít một hơi dài rồi chậm rãi hỏi: “Anh có muốn đề nghị gì không? ”.

     Trong một thoáng tình cờ, tự nhiên tôi trở thành gia đình “cách mạng” nên đã lỡ thì chơi tới luôn để tính sau, tôi nói: “Đề nghị với anh cho tôi về lại Lâm Đồng”. Không nói gì, ông ta lúi cúi viết rặn ra từng chữ … gần mười phút sau mới đưa cho tôi tờ giấy chứng nhận trình diện rồi bước ra cửa trước của toà Đô Chánh. Tôi lấy bật lửa châm điếu thuốc Bastos rồi móc tờ giấy ra xem. Trên tờ giấy đánh máy quay ronéo có mấy chữ nguệch ngoạc: “Đề nghị cho anh Phạm Trần Anh về tiếp tục phục vụ tại Lâm Đồng”. Tôi giật mình rồi mỉm cười vỏn vẹn chỉ có mấy chữ mà tôi lại trở thành gia đình cộng sản rồi!

     Quả nhiên khi tôi về lại Bảo Lộc, đến Uỷ ban nhân dân xã Lộc Thiện trình diện thì thấy Trần Minh Thảo trước dạy ở trường Trung học Bảo Lộc đầu đội nón cối, vai đeo túi “Xà cốt”, y ngạc nhiên hỏi tôi: “Ông còn về đây làm gì?”. Tôi cười trả lời tỉnh queo: “Ủa sao không về bạn?”. Y xem tờ giấy chứng nhận trình diện của tôi im lặng một chút rồi nói: “Thôi ông cứ về đi ....”. Tôi biết y nói vậy chứ nghi ngờ và cay cú lắm. Sau đó, tôi bị gọi đi học tập ngắn hạn 10 ngày ở địa phương, tôi có sơ hở khi tranh luận với tên Ba Đạt thường vụ huyện Bảo Lộc khi y hỏi tôi là tại sao lại ghi là trí thức vô sản chân chính. Tôi nói “Hiện giờ tôi là trí thức vô sản chân chính, các anh cứ điều tra xem tôi có tài sản nhà cửa gì không trong khi các anh là giai cấp vô sản thì bây giờ nhà cửa tài sản…”. Cuối khoá học chúng yêu cầu tôi lên phát biểu cảm tưởng thì tôi nói là: “Tôi “có tội” với nhân dân vì trong quá khứ đã “Kềm kẹp” nhân dân bằng giấy tờ khiến nhân dân “mất tự do và đói khổ hơn bây giờ…” khiến cả hội trường phì cười một cách rất ư là đau khổ..!”.

     Sau này, tôi được biết là có lần họp tên Thảo đưa ra vấn đề đưa tôi đi học tập dài hạn vì tôi không ra cộng tác với “cách mạng” thì bà Tám, trưởng khu 4 xã Lộc Thiện trước là một bạn hàng chợ Bảo Lộc. Bà Tám đã đấu tranh bênh vực: “Tôi biết nó từ trước “giải phóng”, tuy nó là Trưởng ty “Ngụy” nhưng nó nghèo, vợ nó phải bán chè cho học sinh, nó đã bênh vực cho dân nghèo trong phiên họp bạn hàng chợ Bảo Lộc...”. Số là trong phiên họp do tòa Hành chánh tỉnh mời bạn hàng chợ về việc chỉnh trang chợ, tôi có nói rằng: “Bà con hãy nghĩ tới lợi ích chung là xây dựng ngôi chợ mới lớn hơn, đầy đủ tiện nghi hơn và đẹp như chợ Đà Lạt. Bà con đừng nghĩ là chính quyền bày ra để khó dễ đòi hối lộ. Xin mời bà con cứ vào Toà Hành chánh tỉnh gặp thẳng tôi, tôi bảo đảm trong vòng một tháng có giấy phép và không mất một đồng nào. Nếu ai biết hút thuốc tôi còn mời một điếu Bastos nữa...”.

     Chuyện đời nhiều khi nghĩ lại cũng thấy cảm động vui vui xem như trúng xổ số lô an ủi vậy ... Tôi còn nhớ là khi nhận lệnh bàn giao quận Tam Bình sang Minh Đức thì có 147 thân hào nhân sĩ, giáo chức kể cả nghị viên Hội đồng Tỉnh ký tên vào kiến nghị xin Đại tá Tỉnh trưởng giữ tôi ở lại Tam Bình nhưng không được nên lấy nhà lồng chợ tổ chức đãi đằng ăn nhậu suốt đêm … Hầu như mấy ông Quận trưởng nào cũng không ưa tôi vì tôi là “kỳ đà cản mũi” nên quận nào cũng chỉ ở được hơn một năm thì bị đề nghị thuyên chuyển. Rời quận Minh Đức sang Trà Ôn chưa được một năm lại nhận lệnh về trình diện toà Hành chánh Tỉnh với lý do là cấp chỉ huy duy nhất ở tỉnh Vĩnh Long không gia nhập đảng Dân chủ. Tôi về tỉnh lên gặp thẳng Đại tá Trần văn Thì, tôi yêu cầu cho tôi biết lý do, tôi không tham nhũng như ai đó ... Thấy tôi lớn tiếng, ông ta gọi điện thoại cho ông Phó Tỉnh trưởng lên kéo tôi xuống. Sau đó tôi được cử đi thanh tra nghĩa là ngồi chơi xơi nước … Tôi còn nhớ là khi thành lập nhóm Hà Thúc Nhơn chống tham nhũng tại võ đường Hoa Lư của Vovinam, tôi gặp nhà “Giám sát viện tư Ngô Xuân Thọ”, người từng tố cáo với báo chí bố ông là Chủ tịch Giám sát viện Ngô Xuân Tích đã lấy của công 4 chiếc vỏ xe. Anh em chúng tôi quen biết và quý mến nhau nên khi nghe tin tôi bị trù dập đã viết thư giới thiệu tôi với anh Nguyễn Huy Hân, một người sạch lúc đó đang giữ chức Tổng Giám đốc Thuế vụ để về Sài Gòn lo việc chống tham nhũng, gian lậu thuế. Bây giờ nghĩ lại so với bọn cộng sản tham nhũng gấp ngàn lần chế độ Việt Nam Cộng thì những “Ngày xưa thân ái” cứ như chuyện phong thần vậy!

Tuesday, November 8, 2016

VIỆT NAM MUÔN NĂM






VIỆT NAM MUÔN NĂM

Thơ: Phạm Trần Anh
Nhạc: Lê Quốc Tấn

Hợp Ca: Ban CVA & TV Bắc California -USA

https://www.youtube.com/watch?v=7UbofVxThXU


Việt Nam muôn năm, người người nằm xuống
Việt Nam muôn năm, anh dũng đứng lên …
Việt Nam muôn năm, Anh hùng Cứu quốc
Việt Nam muôn năm, sống mãi muôn đời!

Việt Nam muôn năm, người người tiếp nối
Việt Nam muôn năm, anh dũng đứng lên …
Việt Nam muôn năm, Anh hùng Cứu quốc
Việt Nam Muôn năm, sống mãi muôn đời!

Ta không quên những anh hùng dân tộc
Vì nhân dân nguyện dâng hiến thân mình
Vì tương lai ngại gì khi quốc biến
Dẫu tan thây nhưng sống mãi muôn đời!

Sống mãi muôn đời …

Sống mãi muôn đời …