Monday, December 5, 2016




CƯỚP SÚNG CHÈO…

     Một kỷ niệm hú hồn xảy ra trong thời gian tôi làm đội trưởng ở trại Xuân Lộc. Mỗi buổi sáng khi xuất đội đi lao động, tôi thường bàn với cán bộ quản giáo đội lúc đó tên là Thảo về công việc trong ngày, chỉ tiêu lao động dĩ nhiên là tương đối nhẹ nhàng cho anh em mình. Trong đội có chú em tên Mạnh, tính khí hơi nóng giận bất thường một chút. Khoảng hơn 11 giờ sáng hôm đó, tôi vừa về nhà lô một chút thì thấy cán bộ võ trang dẫn đội về. Tôi bước ra thì nghe thấy Mạnh và tên cán bộ vừa đi vừa cãi nhau. Sau này tôi nghe anh em kể lại là cãi nhau từ ngoài đội, tên võ trang nói xỏ xiên chê bai thần quyền mà Mạnh đang tập nên y thách thức đòi so tài cao thấp … 

    Tôi nghe thấy to tiếng cãi vã nên vội bước ra can thiệp. Lúc đó tên cán bộ Phẩm mặt đỏ gay, miệng chửi thề liên tục. Mạnh như điên tiết muốn xông vào, tôi nhảy ra đứng giữa hai người. Hai bên vẫn lớn tiếng cãi nhau, đột nhiên tên võ trang chửi thề “Địt mẹ mày còn nói nữa ông bắn bỏ mẹ mày bây giờ”. Tôi vội nói “cán bộ để tôi và cán bộ Thảo giải quyết chuyện này”. Tên này không nghe vừa nâng súng lên thì Mạnh nhảy vào ôm nó đè xuống. Anh em chạy tán loạn, tôi thấy nguy hiểm quá, một thoáng biến sắc rồi cũng nhảy vào lấy tay đè mũi súng xuống sợ nổ trúng anh em. Tên võ trang không dám bỏ súng nên Mạnh đánh tới tấp vào mặt, máu mũi chảy ra be bét. 

     Đang lúc đó thì cán bộ võ trang thứ hai chạy tới thấy đang ôm nhau giật súng, y nâng nòng súng lên. Tôi vội giơ tay nói “Cán bộ Ly không có gì đâu. Đừng bắn”. Vừa lúc đó cán bộ quản giáo Thảo chạy tới, tôi nói cán bộ Thảo tháo băng đạn ra. Lúc đó không còn thì giờ suy nghĩ, cán bộ Thảo nhảy vào tháo băng đạn ra. Tôi nói ngay cán bộ Thảo giữ cán bộ Phẩm ở đây để tôi đưa Mạnh vào trại. Vừa tới cổng trại thì tên Phẩm vừa chạy theo vừa la lớn: “anh Sơn đừng cho nó vào, nó đánh em chảy máu mũi rồi”. Tên Sơn trực trại hỏi tôi việc gì vậy anh Anh. Tôi nói ngay, lệnh ban giám thị nhốt thằng này gấp, vừa nói vừa đẩy Mạnh vào bên trong trại. Tôi phải làm và nói vậy vì nếu để Mạnh ở ngoài chắc chắn là phải chết vì đòn thù của chúng. Mấy phút sau tên trưởng trại Phước chạy vào gặp tôi hỏi vụ việc xảy ra. Tôi đánh phủ đầu ngay để hù y là: “Cũng may không có tôi nhảy vào đè mũi súng xuống thì ngày mai đài Mỹ đã loan tin là trại giết tù chính trị là cán bộ mất chức liền ...”. Tên Giám thị nghe vậy cũng giật mình nói vội “Thôi vậy là may quá, anh cho đội về nghỉ rồi cho sinh hoạt kiểm điểm”.

     Sự việc xảy ra thật bất ngờ, nhưng cũng thật là may, nếu tôi không liều nhảy vào thì chắc chắn là chúng sẽ bắn chết Mạnh và có thể nhiều người nữa. Tôi nói may vì cán bộ Ly bất mãn với chế độ nên thường hỏi han tôi về tình hình, chính vì vậy mà anh ta không bắn chứ nếu là người khác chắc tôi cũng đi đứt rồi, xong hồ sơ rồi. Sau đó, bọn an ninh điều tra liên tục, vẽ lại sơ đồ hiện trường thấy anh em đều đứng xa nơi giựt súng, 2 đại uý Nguyễn Hữu Cầu và đại uý Nguyễn văn Thục của mình nhanh chân nhảy xuống bờ ao nên không có lý do để qui kết là mưu toan cướp súng thì khốn nạn vô cùng!

     Sự việc không chỉ có thế, trong đội cũng kiểm điểm, và Mạnh phải đi kỷ luật 6 tháng. Trại cũng kiểm điểm kết tội cán bộ Thảo và cán bộ Ly là: "Nào là tiếp tay với địch, nào là không kiên định lập trường chuyên chính, sao không “bắn bỏ mẹ chúng nó đi”. Tội nghiệp cán bộ Thảo bị kỷ luật, sa thải khỏi ngành còn cán bộ Ly bị kỷ luật thuyên chuyển đi nơi khác. Viết đến đây tôi thầm cám ơn những người anh em dù trong hoàn cảnh phải đi bộ đội, phải đi công an nhưng vẫn còn lòng nhân ái và đặc biệt vẫn ngấm ngầm chống cộng như chúng ta. 

     Trong đời tù, tôi đã gặp ít nhất là mấy người công an có người lên tới cấp đại uý công an nhưng vẫn âm thầm giúp đỡ chúng tôi thật nhiều. Họ thông báo với tôi về những kế hoạch của cộng sản là chúng sẽ tàn sát chúng tôi nếu Trung Quốc tấn công tới đây, vụ chống phá trại ở Đại Bình cũng được một sĩ quan an ninh thông cung chỉ cách khai cung tránh né. Môt viên sĩ quan chắc bây giờ cũng lên tới cấp tá rồi một lần đã nói với tôi là nếu Phục quốc đến đây thì anh ta là người đầu tiên sẽ bắn bắn hết chúng nó … và chắc quý vị cũng chẳng ngờ được là trong trại tù để lọt một cây kim cũng là một vấn đề khó khăn, thế mà trong phòng lúc nào chúng tôi cũng có một chiếc radio nhỏ để nghe tin tức VOA, BBC và cả đài Á châu Tự do để theo dõi sát tình hình. Chính những người này mua cho tôi, mỗi lần có tin xét phòng phải bóp nát nhét vào lỗ cầu phi tang và cũng nhờ họ mới chuyển bản kháng thư ra ngoài để gia đình gửi tới Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Tôi phân công để một anh bạn tù bệnh kinh niên hom hem, lúc nào cũng trùm mền có nhiệm vụ nghe các đài. Sáng sớm hôm sau thức dậy, ra đứng tập thể dục cạnh tôi, tay chân chim bay cò bay nhưng miệng vẫn nói lại những gì đã nghe đêm hôm qua.

     Xin chân thành cám ơn những người anh em gọi là bên kia chiến tuyến phải vào quân đội công an vì hoàn cảnh nên cũng là nạn nhân của chế độ. Họ là nạn nhân của cộng sản trước đồng bào miền Nam chúng ta 21 năm trời nên họ hiểu rõ hơn ai hết bộ mặt thật của cộng sản. Sau ngày quốc hận 30 tháng tư 1975, đồng bào miền Nam phát pháo trước nhưng họ sẽ cùng với đồng bào cả nước và đồng bào hải ngoại sẽ dứt điểm chế độ cộng sản bạo tàn phi nhân phản dân tộc ngay trong lòng của cộng sản Việt Nam. Những người anh em này có một tấm lòng nhân hậu, yêu thương và cũng một lòng chống bọn độc tài cộng sản. Chúng ta cũng sẽ chẳng ngạc nhiên khi cộng sản đàn áp dân lành thì những người Việt Nam yêu nước chống độc tài cộng sản ngay trong hàng ngũ bộ đội, công an sẽ đứng lên cùng đồng bào lật đổ chế độ cộng sản, đó là điều cộng sản không bao giờ ngờ nhưng nó sẽ xảy ra trong nay mai mà thôi. 

     Vụ “Cướp súng” này này xảy ra chưa được một tháng thì một buổi sáng tinh mơ, chúng tôi được lệnh dọn đồ chuyển trại không biết đi tới đâu nhưng chúng tôi cũng hiểu là chắc chắn sẽ đến một nơi khắc nghiệt hơn nơi địa ngục trần gian này!



ĐÃ CHÁN CHƯA, NƠI CHỨA CHAN ...                                                                         ĐẦY CHAN CHỨA ẤY ANH ƠI?

     Trần Ngọc Tự bạn tôi trông vẫn như ngày nào còn là trung úy Không Quân, nhà văn thuộc khối Chính Huấn Bộ Tư lệnh Không Quân. Vẫn cặp kiếng trắng dầy, tay vẫn cầm cái pipe hút thuốc thở khói phì phèo khiến tôi ngửi mùi thuốc thơm thèm muốn chết, nên chưa kịp chào hỏi nói năng gì tôi đã đưa tay ra nói “cho tao làm một hơi cho đỡ nhớ” … Hai thằng nói chuyện cười vui ha hả … thăm hỏi gia đình bạn bè chưa xong thì đã hết giờ. Tự nói vội “Gặp cậu thấy còn phong độ tôi mừng, yên tâm rồi nhưng nhớ giữ sức khoẻ nhé, Phạm Trần Anh còn thì còn tất cả...". 

     Tự gửi cho tôi mấy cây thuốc hút, thuốc lào thuốc rê có đủ và một cuốn sách của nhà xuất bản văn học phê phán một một học phái Xã hội chủ nghĩa khác là “Chủ nghĩa xã hội không có con người”. Đêm đó tôi không thể nào ngủ được, những tâm tình tản mạn, những nhắn gửi chân tình và nhất là mấy chữ Tự viết trên trang sách: “Tặng Phạm Trần Công tử … Đã chán chưa … nơi Chứa Chan … đầy chan chứa ấy, Anh ơi!?”. Vẫn là Ngọc Tự ngày nào với văn chương đầy người tràn ra lênh láng, anh chàng chơi chữ vì trại tù nằm dưới chân núi Chứa Chan. Tôi thiếp vào giấc ngủ lúc nào không biết khi tỉnh dậy nhớ lại mấy dòng chữ của bạn hiền, ý thơ tuôn ra một mạch:


Bạn hỏi ta rằng đã chán chưa?
Chung thân chống Cộng cũng chẳng vừa
Đường đi chưa tới hề … chưa chán,
Nước đợi dân chờ, ôi …  chứa chan !!!



Chứa Chan chan chứa bao tình
Nghìn trùng sông núi thương “mình” bấy nhiêu
Dù cho gian khổ muôn chiều
Bao nhiêu thương nhớ bấy nhiêu là tình…

Trại tù Z30A Khu A, chân núi Chứa Chan 1986

* Chữ  “Mình” ở đây vừa chính là bản thân mình, vừa là người vợ yêu của mình. Mình ơi… Chỉ Việt Nam ta mới có chữ “mình” tuyệt vời nhất nhân loại!



Chèo hỏi ta rằng đã ngán chưa
Chung thân chống Cộng cũng chẳng chừa
“Đường đi chưa tới hề chưa ngán
Bá ngọ nhà bay một lũ lừa!”

* Mấy thằng “Chèo” nhãi ranh cũng vênh váo hù dọa “Bố náo, Bố nếu... Mày cả gan dám chống chúng tao, mày là vua chống đối các trại hả? Tao cho mày không thấy ánh sáng mặt trời để mày chết rục xương … ngán chưa?” Kẻ hèn này tức khí nên làm thơ chửi lũ lừa cho đã giận.



LEO RÀO SANG KHU SĨ QUAN                                                                                     HÁT TÙ CA                                                  

     Tôi còn nhớ là anh em tù chính trị đã mang đàn leo rào sang khu sĩ quan lúc các anh em sĩ quan viên chức chế độ Việt Nam Cộng hoà mới được đưa từ ngoài Bắc trở vào miền Nam. Trại tù Z30A chia làm 2 khu cách nhau một cái sân banh, một bên là tù chính trị và bên kia là sĩ quan cải tạo gồm khoảng 400 đại tá, trung tá trong đó có một vài viên Tổng bộ trưởng chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Chính nhờ dịp này mà tôi được gặp nhiều anh em như đại tá Tường Hùm xám Bình Định, đại tá Lương Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, đại tá Thiều, đại tá Quang, đại tá Nguyễn văn Huy, Trung tá Dù Lê Minh Ngọc và Trung tá Bùi Quyền, anh của Bùi Châu bạn đồng khoá của tôi.  Đặc biệt nhất là một số anh em sĩ quan trẻ trong đó có nhà thơ lửa Trần Thúc Vũ tức Thiếu Tá Bùi Kim Đỉnh và Đại tá Không quân Phùng Ngọc Ẩn …. Chính Trần Thúc Vũ và Phùng Ngọc Ẩn đã đến sát hàng rào nơi chúng tôi mới từ Đại Bình chuyển trại đến đây, Đại tá Ẩn đã quỳ xuống để Trần Thúc Vũ nhảy qua hàng rào tiếp tế và hỏi thăm anh em. Vũ hỏi tôi anh ở mặt trận nào? Tôi nói, tôi ở Mặt Trận Người Việt Tự Do Diệt Cộng Phục Quốc thì nhà thơ đọc tặng tôi mấy câu thơ mới làm tối hôm qua:

                 Lá Tự do nuôi một trời hy vọng,
                 Cây Tự Do nuôi Dân Tộc Hưng Tồn
                 Người Việt Tự Do muôn thuở thơm danh
                 Danh thơm ấy bởi bao nguồn máu đổ…

                Máu đã đổ trên khắp miền đất nước
                Triệu bàn tay chung dựng mặt trời lên
                Triệu hờn căm gom lại một căm hờn
                Xô lệch núi, xoay nghiêng trời đất lại…
     Sau đó, một buổi trưa sau khi cho mấy tên trực trại ăn nhậu say sưa, anh em đã tổ chức đưa anh em tù chính trị sang bên khu sĩ quan ra mắt anh em sĩ quan và cùng hát “Tù ca”. Tôi nhớ trong số mấy anh em vượt rào qua có nhạc sĩ Cao Trường Xuân, nhạc sĩ Lê Thụ … cùng với tác giả bài “Chiếc giày dũng sĩ” và anh em sĩ quan cùng chào quốc kỳ hát quốc ca trong một không khí hết sức nồng ấm thân thương. Tôi còn nhớ anh Đại tá Hạnh, Đại tá Quang, Đại tá Lương ôm tôi nói: “Anh em bên này rất cảm động và hãnh diện có mấy em tiếp tục con đường chiến đấu. Mấy em ráng đi … rồi những giọt nước mắt của mấy anh trào ra tự lúc nào!".  

     Khi anh em sĩ quan mình từ ngoài Bắc về, cán bộ trại mừng rỡ ra mặt vì chúng tha hồ xin xỏ kiếm chác bổng lộc nhiều hơn. Ban Giám thị trại tù còn cho thăm nuôi tối đa bất kỳ ngày nào, ngủ với vợ con bao nhiêu đêm cũng được miễn là biết điều quà cáp chút chút nên nhiều chuyện khó coi xảy ra miễn là được ra ngủ với vợ một vài đêm mà không biết rằng chúng rình mò kể lại cho nhau nghe một cách thích thú. 

     Thực tế đau lòng là lúc trước, cán bộ y tế cho nghỉ bệnh và cấp phát thuốc men cho anh em tù tương đối đầy đủ nhưng từ khi có bác sĩ và mấy y tá cải tạo ra làm ở phòng y tế thì anh em phàn nàn là vấn đề khai bệnh nghỉ và cấp phát thuốc men khó khăn hơn. Đa số anh em tỏ vẻ bực tức vì thái độ khúm núm sợ sệt nịnh bợ một thưa hai dạ với cán bộ nên khi cán bộ vào xin thuốc thì lấy thuốc tiêu chuẩn của tù cấp tối đa cho cả gia đình. Khi anh em tù chính trị khám bệnh thì chỉ cho một vài viên gọi là có. Mấy ông cụ phàn nàn với tôi về điều này trong khi mấy anh em trẻ giận dữ tính gây gỗ mượn cớ để đánh cho bõ ghét.  Tôi vội can ngăn để từ từ tôi sang khai bệnh xem sao rồi mới tính nhưng thực ra tôi sợ bọn cộng sản nó khinh nên tìm cách sang gặp để nói chuyện, nếu cần thì chính tôi sẽ nói và làm điều này chứ để anh em trẻ phản ứng coi không đẹp mắt chút nào…  Thực ra tôi không xa lạ gì với ông bác sĩ một thời nổi đình nổi đám này, nhưng cũng may khi gặp lại, ông ta tỏ ra vồn vã nói tôi cần gì cứ nói để ông ta lo. Tôi nói thẳng là tôi không cần gì riêng cho cá nhân tôi nhưng sang để nói về dư luận của anh em tù chính trị đối với mấy anh từ Bắc về đang ở trong ban y tế trại khó khăn anh em. Tôi nói anh phải xem lại vấn đề nếu không thì anh em trẻ sẽ có thái độ. Tôi rất vui vì sau đó, sự đáng tiếc đã không xảy ra và việc khám bệnh cấp phát thuốc men dễ dãi và nhiệt tình hơn trước đó…


Trung Quốc, Trump và Biển Đông sắp tới

Kính Hòa, phóng viên RFA
2016-12-05
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Hình ảnh Tổng thống đắc cử Donald Trump trên báo chí Trung Quốc hôm 14/11/2016.
Hình ảnh Tổng thống đắc cử Donald Trump trên báo chí Trung Quốc hôm 14/11/2016.
 AFP
Chính sách mới của Mỹ về Trung Quốc và Biển Đông trong thời gian sắp tới vẫn còn gây nhiều đồn đoán. Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp, một chuyên gia về quan hệ quốc tế, đang làm việc tại Singapore cho Đài Á Châu Tự Do RFA cuộc trao đổi sau đây về vấn đề này, cũng như những khía cạnh có liên quan đến Việt Nam.
TS Lê Hồng Hiệp: Theo tôi thì vẫn còn sớm để nói đến chính sách của Mỹ dưới thời ông Donald Trump đối với châu Á nói chung cũng như là Trung Quốc hay Việt Nam nói riêng.
Trong thời gian qua ông Donald Trump đưa ra những ý kiến tương đối mâu thuẫn nhau. Một mặt ông tuyên bố sẽ giảm dần sự can dự vào khu vực, nhưng mặt khác thì một số diễn biến gần đây lại cho thấy điều ngược lại. Trong kỳ nghĩ cuối tuần vừa qua, nhiều người bàn luận đến cuộc nói chuyện trực tiếp giữa ông Donald Trump và bà Thái Anh Văn, Tổng thống Đài Loan. Đây là điều khá đặc biệt từ khi Mỹ và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ, và Mỹ cắt đứt quan hệ với Đài Loan.
Đây là lần đầu tiên một Tổng thống Mỹ nói chuyện trực tiếp với một lãnh đạo Đài Loan. Điều này đặt ra một câu hỏi về chính sách của Mỹ với Trung Quốc trong thời gian tới sẽ như thế nào. Một số học giả Trung Quốc cho rằng cuộc nói chuyện vừa rồi là một hồi chuông cảnh tỉnh đối với công luận và giới làm chính sách Trung Quốc, bởi vì từ khi ông Trump đắc cử, nhiều nhà phân tích Trung Quốc có cái nhìn tương đối lạc quan về quan hệ Mỹ Trung trong thời gian tới, cũng như vai trò của Trung Quốc trong khu vực, do chính sách biệt lập mà ông Trump nêu ra.
Sự yên tĩnh trên biển Đông chỉ là tạm thời, phù hợp với cách hành xử của Trung Quốc trong quá khứ. Đó là chiến lược lát cắt salami.
-TS Lê Hồng Hiệp
Một số diễn biến khác liên quan đến tình hình Triều Tiên hay biển Đông thì chúng ta chưa có thông tin rõ ràng để khẳng định xu hướng sắp tới. Tuy nhiên, với những gì ông Trump thể hiện vừa qua về Trung Quốc và Đài Loan, thì có lẽ là chúng ta phải chờ đợi thêm để mà có dữ liệu đầy đủ hơn, để đánh giá xu hướng chính sách của Mỹ dưới thời ông Trump chính xác hơn.
Kính Hòa: Trung Quốc trong thời gian qua có vẻ ít có hành động trên biển Đông?
TS Lê Hồng Hiệp: Một phần sự yên tĩnh trong thời gian qua trên biển Đông là do Trung Quốc đã hoàn thành cơ bản việc xây dựng các đảo nhân tạo trên biển Đông. Bây giờ họ chỉ âm thầm hoàn thiện, điều đó không gây nhiều tranh cãi và phản đối.
Thứ hai là sau phán quyết của tòa trọng tài về vụ kiện của Philippines hồi tháng bảy vừa rồi, thì tôi nghĩ rằng bản thân Trung Quốc họ cũng có sự kềm chế để mà giảm sức ép về ngoại giao và công luận về chính sách biển Đông của họ. Dường như họ cũng có sự nhún nhường nhất định để thực hiện mục tiêu này.
Thứ ba là một nhân tố chủ chốt trong tranh chấp biển Đông, đó là Philippines dưới thời Tổng thống Duterte có sự thay đổi về chính sách, và chính vì vậy mà Bắc Kinh muốn có một thời gian yên tĩnh để mà lôi kéo được ông Duterte một cách thành công hơn, cho nên họ có giảm căng thẳng trên biển Đông.
Tuy nhiên tôi nghĩ rằng sự yên tĩnh chỉ là tạm thời, phù hợp với cách hành xử của Trung Quốc trong quá khứ. Đó là chiến lược lát cắt salami, tức là sau một thời gian căng thẳng đạt được các mục tiêu của mình, thì Trung Quốc tạo ra một thời kỳ lắng dịu trước khi bước vào một đợt căng thẳng mới. Có lẽ năm 2017, 2018 sẽ có những căng thẳng mới do Trung Quốc gây ra trên biển Đông. Đặc biệt nếu chính quyền của Mỹ có những hành động mà Bắc Kinh cảm nhận là thù địch với Trung Quốc trên biển Đông.
000_IQ95F.jpg
Tổng thống đắc cử Donald Trump (trái) và Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn. AFP PHOTO
Kính Hòa: Ông vừa nói tới hành động của Tổng thống Duterte của Philippines cũng như phán quyết của tòa trọng tài, thì phán quyết đó đặt Trung Quốc vào thất thế. Tại sao bây giờ không chỉ Philippines và cả Malaysia nữa lại đổi thái độ đối với Trung Quốc?
TS Lê Hồng Hiệp: Sự thay đổi chính sách của Philippines nó xuất phát từ lập trường quan điểm của Tổng thống Duterte. Các ưu tiên chính sách của ông thiên về các vấn đề trong nước nhiều hơn. Để phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế trong nước thì Philippines cần sự hợp tác kinh tế với Trung Quốc, vì vậy ông cần cải thiện quan hệ với Trung Quốc, cố gắng duy trì một quan hệ gọi là ổn định, mang tính hợp tác nhiều hơn với Trung Quốc hơn là ông Aquino trước đây.
Ngoài ra tôi nghĩ là về chính sách biển Đông, thì sau phán quyết của tòa trọng tài, với thắng lợi áp đảo của mình như vậy thì phía Philippines cũng có như cầu cải thiện quan hệ với Trung Quốc, không ép làm họ mất mặt quá nhiều có thể có những phản ứng gay gắt làm căng thẳng leo thang.
Vấn đề mấu chốt ở đây là vừa cải thiện quan hệ với Trung Quốc, vừa bảo toàn lợi ích của họ. Và vấn đề cải thiện quan hệ với Trung Quốc cũng không phải là điều gì quá phương hại đến lợi ích của Philippines trên biển Đông, miễn là bảo tồn được thắng lợi của họ trong vụ kiện vừa qua.
Còn Malaysia thì bấy lâu nay quan hệ của họ vói Trung Quốc cũng đã tích cực và gần gũi. Trong thời gian qua Malaysia gặp nhiều sức ép trong nước cũng như bên ngoài. Trong nước thì có chuyện bê bối của Thủ tướng Malaysia liên quan đến một quĩ đầu tư.
Ông Najib cũng muốn sử dụng các nguồn lực của Trung Quốc để hóa giải vụ bê bối này, đặc biệt là các công ty Trung Quốc mua các món nợ xấu của quĩ đầu tư, giúp ông Najib phục hồi uy tín trong nước. Mặt khác ông Najib cũng gặp chỉ trích của Mỹ liên quan đến những bê bối của vụ tham nhũng này, vì vậy việc xoay trục sang Trung Quốc cũng là một phản ứng dễ hiểu.
Kính Hòa: Có vẻ như trong bối cảnh hiện tại thì Việt Nam trở nên ngày càng đơn độc hơn, thì ông đoán là sắp tới cách tiếp cận vấn đề biển Đông của Việt Nam sẽ như thế nào?
TS Lê Hồng Hiệp: Việt Nam về mặt nguyên tắc chiến lược thì sẽ không thay đổi nhiều, có nghĩa là sẽ kiên định các lập trường, chính sách, các tuyên bố chủ quyền của mình trên biển Đông, tăng cường quan hệ với các đối tác chủ chốt như Hoa Kỳ, Nhật Bản, ASEAN để mà đối phó với các sức ép trên biển Đông.
Tuy nhiên về mặt chiến thuật thì sẽ có thể có những điều chỉnh. Ví dụ như trong trường hợp ông Donald Trump có một sự thõa hiệp với Trung Quốc trên biển Đông thì Việt Nam cũng phải điều chỉnh ít nhiều để có thể có lợi hơn. Nếu Hoa Kỳ giữ nguyên cách tiếp cận của họ về biển Đông thì có lẽ Việt Nam cũng không cần quá lo lắng, hay là khỏi điều chỉnh nhiều các chính sách của mình trên biển Đông.
Mỹ có thỏa hiệp với Trung Quốc trên biển Đông, và Việt Nam có điều chỉnh theo sự thỏa hiệp đó hay không thì chúng ta cần phải chờ xem.
Trong bối cảnh những diễn biến quá lớn mang tính bước ngoặc chưa diễn ra thì Việt Nam vẫn duy trì đường hướng lâu nay của mình là kết hợp nội lực và tận dụng sự hỗ trợ từ bên ngoài để mà giải quyết sức ép từ phía Trung Quốc.
-TS Lê Hồng Hiệp
Trong lập trường của ông Trump về vấn đề Đài Loan, thì chúng ta cũng có chút hy vọng là ông ấy sẽ không thay đổi, sẽ không thỏa hiệp với Trung Quốc như nhiều người lo ngại lâu nay.
Kính Hòa: Nhìn các động thái của Việt Nam trong thời gian qua thì có vẻ như Việt Nam lại mạnh dạng hơn, ví du như cái tin Việt Nam đưa tên lửa ra Trường Sa, hay ảnh vệ tinh gần đây cho thấy Việt Nam mở rộng sân bay trên đảo Trường Sa lớn. Như vậy giải thích như thế nào về những hành động có vẻ như mạnh dạn hơn đó?
TS Lê Hồng Hiệp: Chính sách biển Đông của Việt Nam bao gồm nhiều mặt khác nhau, trong đó có sự kết hợp giữa hai phần, phát triển nội lực và sử dung ngoại lực. Những động thái mà anh vừa nói là thể hiện sự quyết tâm bên trong của Việt Nam nhiều hơn.
Chính vì vậy nếu có những diễn biến bên ngoài gây bất lợi cho Việt Nam thì Việt Nam vẫn có thể kiên trì duy trì các chính sách liên quan đến nội lực của mình. Tất nhiên nếu có sự thay đổi bên trọng bên ngoài thì Việt Nam có thể phải cân nhắc.
Nhưng trong bối cảnh những diễn biến quá lớn mang tính bước ngoặc chưa diễn ra thì Việt Nam vẫn duy trì đường hướng lâu nay của mình là kết hợp nội lực và tận dụng sự hỗ trợ từ bên ngoài để mà giải quyết sức ép từ phía Trung Quốc.
Chúng ta không nên tách các hành động ấy của Việt Nam ra khỏi chính sách tổng thể trong chuyện giải quyết vấn đề biển Đông với Trung Quốc.
Kính Hòa: Xin cảm ơn ông.

Sunday, December 4, 2016

                             
                          

                                                       TÌNH ĐỒNG BÀO NGHĨA RUỘT THỊT,                                                                 
Ý NGHĨA NHÂN VĂN CAO ĐẸP CỦA VIỆT NAM

     Truyền thống lịch sử năm ngàn năm văn hiến còn cho chúng ta một ý nghĩa cao đẹp tràn đầy vẻ nhân văn của huyền thoại Việt Nam mà không một dân tộc nào có được. Thật vậy, từ hình tượng Mẹ Tiên đẻ ra một bọc trăm trứng rồi đem ra để ở ngoài đồng để mẹ đất ấp ủ, bảy ngày sau nở ra trăm người con trai, người nào cũng khôi ngô tuấn tú đã cho chúng ta niềm tự hào con Rồng cháu Tiên. Chúng ta có chung cội nguồn huyết thống thiêng liêng, truyền lưu cho chúng ta nên chúng ta đều “bình đẳng” như nhau. Chúng ta cùng chung một bào thai của Mẹ Âu Cơ, người Mẹ Tổ quốc Việt Nam sinh thành dưỡng dục nên chúng ta có quyền gọi những anh em là đồng bào ruột thịt mà các dân tộc khác không thể gọi được như thế.

     Hai chữ đồng bào mà chúng ta vẫn gọi một cách thân thương trìu mến “Bọc điều trăm họ thai chung, Đồng bào tiếng gọi vô cùng Việt Nam...”. Dân gian Việt thường gắn liền “yêu nước với thương nòi”, “tình đồng bào với nghĩa ruột thịt” đặc trưng của nòi giống Việt. Chính từ ý nghĩa đồng bào nên trong cuộc sống thường nhật, việc ứng xử thể hiện qua cách xưng hô với người không phải trong gia tộc rất là thân tình chẳng khác gì bà con họ hàng cả. Đối với tha nhân, người Việt chúng ta cũng gọi là bà con cô bác, cũng xưng hô là ông bà, cô bác, chú thím, cậu mợ, anh chị em, là điều mà không thấy ở bất cứ một dân tộc khác ngoài Việt Nam. Đồng bào còn biểu trưng một ý niệm bình đẳng như nhau, giữa những con dân Việt không có gì khác biệt về đẳng cấp, quyền lợi. 

     Huyền thoại Rồng Tiên thể hiện một ý chí độc lập tự cường lấy sức mình là chính, không dựa vào thần linh cũng như tha nhân. Huyền tích Việt kể rằng mẹ Âu đem bỏ cái bọc ra ngoài đồng, biểu trưng cho nền văn hoá nông nghiệp nên dân gian ngày xưa, khi đẻ xong lót lá chuối cho con nằm dưới đất hàm nghĩa trong vòng tay của mẹ đất. Mặt khác nó cũng thể hiện ý niệm nhân chủ, lấy con người làm chính, dựa trên ý chí tự chủ, tự lực tự cường. 

     Huyền thoại Rồng Tiên kể rằng sau 7 ngày, trăm trứng nở ra trăm con trai, không cần phép màu của bất cứ thần linh nào đã thể hiện cao độ tâm linh Việt, sức sống Việt. Từ đó, chúng ta phải biết lấy sức mình là chính để đứng vững trên đôi chân của mình không dựa vào Thần linh, một sức mạnh bên ngoài như các dân tộc khác. Từ ý niệm đồng bào cùng chung một Mẹ, một nguồn cội huyết thống đã hình thành một ý thức dân tộc cao độ với lòng yêu nước gắn liền với tình thương nòi giống. 


     Hai ý niệm yêu nước thương nòi hoà quyện làm một, xuất phát từ lòng tự hào “Con Rồng cháu Tiên” đã tạo nên những kỳ tích oai hùng, đẹp như áng sử thi của thiên trường ca bất hủ Việt Nam. Hai chữ “Đồng bào”của Việt tộc còn biểu trưng một cộng đồng Bách Việt luôn đặt quyền lợi chung lên trên quyền lợi cá nhân, việc nước trước việc nhà, danh dự gia đình dòng họ trên lợi ích cá nhân hẹp hòi vị kỷ. Tuy vậy, truyền thống Việt cổ vẫn lấy con người làm gốc “Nhân bản”, tôn trọng cá nhân cũng như sự bình quyền nam nữ, không phân biệt giàu nghèo sang hèn. 

     Trong khi đó, Tây phương coi trọng tự do cá nhân thái quá không đếm xỉa gì tới tha nhân, tới lợi ích cộng đồng của nhân quần xã hội. Đó chính là ý nghĩa của đạo đức Việt cổ mà giới học giả Tây phương đều phải hết lời ca ngợi cái gọi là “Giá trị Phương Đông”, tinh hoa của nền văn minh đạo đức Việt Nam.

PHẠM TRẦN ANH

Saturday, December 3, 2016

Dòng Sông Xanh, lời Việt Phạm Duy (The Blue Danube), là bảnwaltz cực kỳ nổi tiếng của ông vua nhạc waltz Johann Strauss II. Tác phẩm được sáng tác vào năm 1866. Nó là một trong những bảnwaltz hay nhất và là khuôn mẫu tiêu biểu cho kiểu waltz của triều đại waltz nhà Strauss.
Kính mời quý vị thưởng thức nhạc phẩm này với tiếng hát điêu luyện của Ngọc Hạ, kèm phần hình ảnh Super HD 2016P của Trần Ngọc.

Cám ơn quý vị
Trần Ngọc
………………………………………………………………………..
Hoàn cảnh ra đời của The Blue Danube = Le Beau Danube Bleu.
(Trích theo Wikipedia tiếng Việt ).
….Câu chuyện có vẻ tiểu thuyết quá, không biết thật hay hư cấu. Xin quý vị tùy nghi….
Bản nhạc waltz có xuất phát từ mối tình không thể nào quên của chính Johann Strauss II, nhạc sĩ người Áo (1825-1899).
Tác phẩm này ra đời khi Johann Strauss II đã có vợ. Vợ của nhà soạn nhạc dành cho ông một tình yêu vô bờ bến, tận tụy. Rồi một ngày, bà phát hiện ra chồng mình có một nhân tình trẻ trung.
Một buổi sáng, bà đến tìm cô nàng này. Trước khi mở cửa, cô nàngháo hức vì tưởng nhân tình John Strauss đến. Nhưng chợt cô cảm thấy lo lắng vì trước mặt cô là vợ của Strauss . Cô cứ nghĩ đến một cuộc đánh ghen khủng khiếp, ghê gớm sẽ đến với mình. Nhưng không, bà vợ chỉ đến để cảm ơn người nhân tình của chồng mình đãchăm sóc chu đáo ông. Cô gái từ chỗ lo lắng đã bàng hoàng trước những lời nói đó. Cô gái ấy đã bật khóc, rồi chợt tỉnh ra, cố gắng đuổi theo bà Strauss, người đàn bà cao thượng ấy. Nhưng bà Strauss đã ra khỏi khách sạn, rồi bà không thể trụ được nữa. Bà ngã quỵ xuống. Nhìn thấy sự gục ngã ấy, cô nhân tình biết rằng không thể làm tổn thương trái tim người phụ nữ đó nữa, nên quyết định xáchvali ra đi.
Đúng lúc đó, Strauss đến khách sạn tìm cô nhân tình. Ông gặp vợ mình ngất xỉu, lo lắng đưa bà tới bệnh viện. Bà vợ, khi tỉnh lại, đã nói lời xin lỗi ông vì bà đã tìm gặp cô gái kia. Strauss lại tức tốc đến khách sạn , nhưng cô gái đã đi rồi. Ông đuổi theo thì tàu đã rời bếnsông Danube. Strauss ngẩn ngơ vì mọi thứ xảy ra, nhưng cũng cảm thấy rất hạnh phúc vì hai người phụ nữ ông yêu đều cao thượng và biết hy sinh.
Trong cảm xúc ấy, "Dòng Danube xanh" xuất hiện giữa dòng ngất ngây của tình yêu.


CỘI NGUỒN TRĂM HỌ

     Thực tế đã minh nhiên lý giải ý nghĩa của sự việc lạ thường là mẹ Tiên sinh ra trăm trứng nở trăm con để rồi mỗi người con đi khắp nơi phát cỏ lập ấp trở thành một trăm chi tộc Việt mà cổ sử Trung Quốc gọi là Bách Việt. Mỗi chi tộc do một người con trai đứng đầu vâng lời bố Lạc đến một vùng đất mới khai phá đất đai, phát cỏ mở đất để lập ấp sinh sống và lập ra một dòng họ. Chính từ đó mới có ý niệm bách tính nghĩa là trăm họ của Việt tộc mà trước đây, sự nô dịch văn hoá Hán khiến chúng ta cứ nghĩ là của Hán tộc. Đây chính là vấn đề cốt lõi ẩn chứa trong huyền thoại mà tiền nhân ta thuở dựng nước đã gửi gấm cho thế hệ con cháu Việt Nam ngàn sau.

     Bách Việt Ngọc Phả Truyền Thư viết: “Nhà thì có gia phả cũng như nước thì có Quốc Sử. Phải ghi lại cho tinh tường để tổ quốc ghi công. Non sông gấm vóc, đời này qua đời khác đến. Bên văn thì hiền lương, bên võ thì lão luyện. Vị thế nước nhà thật rực rỡ. Đầu đuôi các thế hệ được ghi chép, biên khảo để truyền về sau. Đầu tiên chỉ chép vị Tổ tối cao. Tổ quốc ta được tính từ tổ xa xưa đó, vị tổ gốc rễ, vị tổ từ đất mẹ truyền đến chúng ta đã hàng muôn nghìn đời giống như cây thì phải có gốc, nước thì phải có nguồn. Trước mắt chúng ta hãy tính từ “Ba vua mở nước”. Vậy từ xa xưa, nước ta đã có các vua Hùng làm chủ nước non với bản đồ hoa sen nở rộ, tính từ khi Kinh Dương Vương đứng đầu “Ba vua mở nước”.[1]   

     Theo nhà nghiên cứu Bùi văn Nguyên thì bản “Bách Việt Ngọc Phả Truyền Thư” do trưởng họ Nguyễn Đức ghi vào năm thứ tư đời Đinh Tiên Hoàng tức năm Tân Mùi 971 hiện còn lưu giữ ở làng Vân Lôi Hà Tây mà xưa kia là làng Vân Nội thuộc phủ Thanh Oai tỉnh Hà Nội. Từ đường họ Nguyễn gốc ở làng Vân Nội thờ từ Tổ Phục Hy gọi là Đế Thiên và Thần Nông gọi là Đế Thần trở xuống cho đến các vua Hùng. Theo đương kim Tộc trưởng ông Nguyễn văn Tằng thì đền thờ từ Kinh Dương Vương xuống tới các vị vua triều Nguyễn. Trong từ đường có bức hoành phi và đôi câu đối do triều Nguyễn tặng: “Quốc Ân Gia Khánh”. Đôi câu đối là “Muôn thuở phúc nhà lòng kính Tổ,  Chín trùng lộc nước áo vua ban”.

     Sở dĩ có họ Nguyễn gốc là vì tổ tiên ta lấy địa danh cái gò núi đất ở Vân Lôi xưa kia là Phong Châu nơi họ Nguyễn sinh tụ. Chữ Nguyễn bên trái chữ phụ là cái gò đất, bên phải là chữ nguyên nghĩa là đầu tiên. Trong khi đó, một nguồn thư tịch khác cho biết là ngay từ thời cổ đại ở Cam Túc một tỉnh tiếp giáp với vùng Tam Giang Bắc, trên đường thiên di của Việt tộc đã sinh tụ tại đây nên cổ thư đã nói tới một nước Nguyễn (Rhuan). Về sau họ Nguyễn thiên cư dần xuống trung nguyên rồi Hoa Nam và Việt Nam bây giờ.

    Ngày nay, các nhà nghiên cứu đều ghi nhận rằng Việt Nam có 3 dòng họ lớn là họ Trần, họ Lê và họ Nguyễn là đông nhất vì theo các nhà nghiên cứu thì họ Nguyễn đã thiên cư dần từ Cam Túc, Thiểm Tây xuống Hoa Nam rồi Việt Nam. Mặt khác, đời Trần vào thế kỷ 12 sau khi sắp xếp để Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, Thái sư Trần Thủ Độ lấy cớ ông tổ họ Trần tên Lý nên bắt tất cả những ai mang họ Lý phải đổi ra họ Nguyễn. Chính vì vậy họ Nguyễn ngày càng đông hơn.[2]

     Ngày nay, các nhà nghiên cứu đều ghi nhận rằng Việt Nam có 3 dòng họ lớn là họ Nguyễn, họ Trần và họ Lê. Trong 3 họ này, họ Nguyễn là đông nhất vì theo các nhà nghiên cứu thì họ Nguyễn đã thiên cư dần từ Cam Túc, Thiểm Tây xuống Hoa Nam rồi Việt Nam. Mặt khác, đời Trần vào thế kỷ 12 sau khi sắp xếp để Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, Thái sư Trần Thủ Độ lấy cớ ông tổ họ Trần tên Lý nên bắt tất cả những ai mang họ Lý phải đổi ra họ Nguyễn. Chính vì vậy họ Nguyễn ngày càng đông hơn.

NHỮNG DÒNG HỌ DỰNG NÊN CÁC TRIỀU ĐẠI                     TRONG LỊCH SỬ VIỆT.

     Theo nhà nghiên cứu Gia phả Dã Lan Nguyễn Đức Dụ thì Việt Nam có khoảng 140 dòng họ. Khi nghiên cứu các dòng họ ở Việt Nam, người ta phải căn cứ vào lịch sử thiên cư của Việt tộc, bao gồm các quốc gia Bách Việt và các triều đại trong lịch sử, các chiến công lẫy lừng của các danh tướng, các anh hùng danh nhân văn hoá tựu chung có thể liệt kê một số dòng họ chính nổi bật nhất như sau:

1.       NHỮNG DÒNG HỌ DỰNG NÊN CÁC TRIỀU ĐẠI 

- Họ Hồng: Họ Hồng Bàng.
- Họ Lạc (Lị, Lộ, Ló ..): Họ của bố Lạc Long Quân.
- Họ Âu (Ngu): Họ của mẹ Âu (Cơ).
- Họ Hùng: Hữu Hùng thị, được xem như họ của các vua Hùng. Thời Hai bà Trưng cũng nhận là kế lại nghiệp Hùng nên lấy tên nước là Hùng Lạc.
- Họ Triệu: Triệu Đà lên ngôi vua lấy hiệu là Triệu vũ Vương thành lập quốc gia Việt. Về sau có vua Bà Triệu thị Trinh khởi nghĩa năm 248 chống quân Ngô. Triệu Quang Phục lên ngôi lấy hiệu là Triệu Việt Vương (549-571).
- Họ Trưng: Trưng Trắc, Trưng Nhị …
- Họ Khu: Năm 139, nhân dân Nhật Nam dưới sự lãnh đạo của Khu Liên đánh chiếm huyện Tượng Lâm thành lập nước Lâm Ấp. Sử Tàu chép là Lâm Ấp chính thức thành lập vào niên hiệu Sơ Bình 190-192.
- Họ Phạm: Phạm Văn, Phạm Phật làm vua nước Lâm Ấp.
- Họ Lý: Nhà Tiền Lý từ năm 544 đến năm 602, Lý Bí lên ngôi lấy hiệu là Lý Nam Đế, thành lập quốc gia Vạn Xuân. Lý Phật Tử (571-673). Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi lấy hiệu là Lý Thái Tổ mở ra triều đại nhà Lý dài 215 năm (1010-1215).
- Họ Mai: Mai Thúc Loan lên ngôi được suy tôn là Mai Hắc Đế (722-725).
- Họ Phùng: Phùng Hưng được nhân dân suy tôn là Bố Cái Đại Vương sau khi khởi nghĩa đánh bại quân Đường giành quyền tự chủ cho nước nhà (783-791).
- Họ Khúc: Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ năm 906.
- Họ Dương: Dương Đình Nghệ chống quân Nam Hán.
- Họ Ngô: Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán (937-965).
- Họ Đinh: Đinh Bộ Lĩnh thống nhất nước nhà 967.
- Họ Lê: Lê Hoàn, Lê Lợi.
- Họ Trần: Trần Cảnh.
- Họ Hồ: Hồ Quý Ly, Hồ Thơm Nguyễn Huệ.
- Họ Mạc: Mạc Đăng Dung.
- Họ Trịnh: Trịnh Kiểm.
- Họ Nguyễn: Nguyễn Hoàng.

     Sau khi Mã Viện thắng Hai Bà Trưng đã tàn sát dân ta, chúng còn bắt hàng trăm “Cừ Soái” đem sang Tàu, số những người còn lại mang họ này phải tìm cách đổi họ thay tên nên dòng họ Trưng, họ Thi, họ Chử, họ Hùng, họ Thục hầu như không còn nữa.

2.      NHỮNG DÒNG HỌ LẬP NÊN CHIẾN CÔNG HIỂN HÁCH TRONG LỊCH SỬ:

- Họ Chu: Năm 158, Chu Đạt lãnh đạo nhân dân Cửu Chân nổi lên đánh chiếm Nhật Nam. Năm 163, Chu Cái cùng với -- Hồ Lan lãnh đạo nhân dân nổi lên đánh chiếm huyện Quế Dương, Thương Ngô.
- Họ Bốc, họ Hồ, họ Phan: Từ 160-180, nhân dân Thương Ngô dưới sự lãnh đạo của Bốc Dương, Phan Hồng, Lý Nghiêu, Hồ Lan, Chu Cái nổi lên đánh chiếm Thương Ngô.
- Họ Lương: Tháng giêng năm 178, anh hùng dân tộc Lương Long lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa của nhân dân các quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam nổi lên đánh chiếm quận huyện, làm chủ đất nước được 4 năm.
- Họ Ninh: Ninh Trường Châu nổi lên chiếm Uất Lâm và Thủy An Quảng Tây bây giờ.
- Họ Lý: Lý Trường Xuân và Lý Tự Tiên khởi nghĩa chống giặc Đường.
- Họ Dương: Năm 806, Dương Thanh nổi dậy giết Lý Tượng Cổ và hơn 1 ngàn quân Đường.

     Ngoài những dòng họ Việt ở Việt Nam bây giờ, chúng ta còn phải kể tới những dòng họ Việt cổ ở Hoa Nam mà sử sách Trung Quốc gọi là Bách Việt. Từ trước đến nay, các sử gia Việt Nam do thiếu tài liệu nên thường cho rằng phần lớn họ Việt đều là họ Tàu, từ Trung Quốc xuống Việt Nam. Sử gia Trần Trọng Kim trong tác phẩm “Việt Nam Sử Lược” viết về dòng dõi Lý Nam Đế như sau: “Lý Bôn có người gọi là Lý Bí, vốn dòng dõi người Tàu, tổ tiên đời Tây Hán phải tránh loạn chạy sang Giao Châu, đến lúc bấy giờ đã là 7 đời, thành ra người bản xứ …” hoặc “Nguyên họ Hồ là dòng dòng dõi nhà Ngu bên Tàu nên đặt quốc hiệu là “Đại Ngu”.

     Đặc biệt là các nhà sử học Mác Lê viết sử theo nghị quyết của đảng CSVN nên viết rằng nước ta chỉ nằm trong phạm vi Bắc và Trung VN hiện nay và cũng chép rằng Lê Quý Ly, cháu 4 đời của Hồ Liêm, dòng dõi Hồ Hưng Dật người Triết Giang bên Tàu.  Gần đây, Lê Trung Hoa trong “Họ và tên người Việt Nam” vẫn viết theo sách sử cũ: “Phần lớn các họ của người Kinh có nguồn gốc từ Trung Quốc như Trần, Lê, Lý, Đỗ … Trong hàng nghìn năm Bắc thuộc và tiếp tục sau đó, nhiều quan lại và thường dân Trung Quốc đã sang định cư ở nước ta, rồi sinh con đẻ cháu, dần dần trở thành người Việt. Xin nêu ra một vài dẫn chứng như Trần Lãm, cha nuôi của Đinh Bộ Lĩnh, vốn là con ông Trần Công Đức, quán ở Trấn Quảng Đông, từ Trung Hoa sang hùng cứ ở Bố Hải Khẩu, nay là xã Kỳ Bố, huyện Vũ Tiên, phũ Kiến Xương tỉnh Nam Định, mà tự xưng là Trần Minh Công…”. 

     Ngay cả họ Nguyễn, một họ lớn nhất của người Việt chiếm 38% thì Lê Trung Hoa cũng cho có nguồn gốc Trung Hoa vì: “Đời Tấn, bên Trung Quốc có Nguyễn Tịch nổi danh với điển tích Mắt xanh. Đồng thời với Nguyễn Tịch có Nguyễn Hàm, một nhà thơ nổi tiếng!”. Thực ra, tất cả đều là họ của người “Trung Quốc gốc Việt cổ” ở Hoa Nam lãnh thổ Trung Quốc bây giờ. Ông Tổ nhà Lý, Lý Công Uẩn là chi Hmong-Mien của Bách Việt, nhà Trần, nhà Hồ, Nhà Tây Sơn đều là người Mân Việt (Min Yue) ở Phúc Kiến, Triết Giang nên đều là người Việt trong đại chủng Bách Việt.

3. NHỮNG HỌ VIỆT CỔ Ở ĐÔNG VÀ NAM TRUNG QUỐC

     Ngày nay sự thật lịch sử đã được phục hồi sau hàng ngàn năm bị che phủ bởi lý của kẻ mạnh. Sự thật lịch sử đã xác nhận là lãnh thổ của nước Xích Quy rồi Văn Lang của Việt tộc thời xưa còn ở lưu vực 2 con sông Hoàng Hà Dương Tử của Trung Quốc bây giờ. Suốt dòng lịch sử Việt, người Việt cổ đã phải thiên cư rời bỏ địa bàn sinh tụ trước kẻ thù Hán tộc xâm lăng phương Bắc chạy xuống phương Nam. Số còn lại trải qua hàng ngàn năm thống trị của Hán tộc với chủ trương đồng hoá, buộc họ phải theo phong tục tập quán Hán. Thế nhưng, trải qua hàng ngàn năm bị nô dịch nhưng họ vẫn giữ bản sắc Việt nên tuy sinh hoạt giống như người Hán nhưng không bao giờ hoá thành người Hán được.

     Chính vì vậy, tuy cùng gọi là người Trung Quốc nhưng người Nam TQ và người Bắc TQ khác nhau hoàn toàn từ con người đến đời sống văn hoá, phong tục tập quán. Người Miền Nam Trung Quốc vẫn gọi nhau bằng họ như ông Trần, ông Lý… chứ không gọi bằng tên chính để nhận biết, trân trọng cội nguồn Việt cổ của tổ tiên họ. Như vậy, người dân ở miền Nam TQ hiện nay là người Trung Quốc gốc Việt cổ nên họ của dân Hoa Đông, Hoa Nam chính là họ Việt như họ Lý, Lưu, Trương, Mai, Lâm, Trịnh ... Ngay từ thời Chu khi Hồ Công lấy công chúa Chu, vua Chu cắt đất Trần phong cho Hồ Công. Hồ Công lấy đất phong lập ra triều Trần của dòng họ Trần ở lưu vực phía Đông sông Dương Tử.

     Sử sách Việt ghi tổ tiên của Lê Quý Ly và Nguyễn Huệ tên thật là Hồ Thơm vốn họ Hồ ở đất Trần là người Việt cổ. Hồ Quý Ly đặt tên nước là “Đại Ngu” hàm nghĩa là dòng dõi vua Thuấn họ Ngu. Hồ Quý Ly nuôi tham vọng mở ra triều đại thanh bình thịnh trị như thời Đường Ngu tức Nghiêu Thuấn thuở xưa nên mới đặt tên nước là Đại Ngu. Theo các nhà nghiên cứu thì Ngu về sau trại âm ra là Âu, Ngu Cơ=> (Ou Cơ) => Âu Cơ. Chữ Cơ có nghĩa là người con gái xinh đẹp nên truyền thuyết  Rồng Tiên với mẹ Âu Cơ nghĩa là mẹ Âu xinh đẹp như tiên.

     Trong suốt trường kỳ lịch sử, Bách Việt ở Nam Trung Quốc luôn vùng lên giành lại đất Tổ Trung Nguyên mỗi khi Hán tộc suy yếu. Thời Xuân Thu Chiến Quốc, các quốc gia Bách Việt của con Rồng cháu Tiên như Việt, Ngô rồi Sở nhiều lần đánh thắng các nước lên ngôi Bá chủ Trung nguyên. Thế nhưng do ở rải rác khắp trung nguyên, giới lãnh đạo vì quyền lợi cá nhân dòng họ đã gây chiến tranh chém giết lẫn nhau để rồi cuối cùng bị đế quốc Tần tiêu diệt. Khi triều Tần xụp đổ, Hạng Võ người Sở Việt cùng Lưu Bang người Hán quyết chiến một mất một còn giành quyền làm chủ Trung nguyên. Hạng Võ ỷ tài “Lực bạt sơn hề khí cái thế”, anh hùng khí đoản nên kiêu căng không nghe lời của quân sư Phạm Tăng nên bị Lưu Bang vây khốn phải tự sát. Thế là chấm dứt thời kỳ “Hán Sở Tranh Hùng” nên Trung nguyên lại về tay Hán tộc để lại bao thương tiếc cho người dân Sở Việt ở Hoa Nam.

     Kẻ thù Hán tộc phương Bắc vốn là một tộc người du mục đời sống buộc phải có tổ chức, đoàn kết, sức mạnh võ biền, rất thạo việc chiến tranh, thiên về lý trí nên tình cảm lạnh lùng đến mức khô cằn. Trong khi đó, các nước Bách Việt ở phương Nam định cư rải rác khắp Trung nguyên là cư dân nông nghiệp đời sống thiên về tình cảm, thịnh về văn hoá nhưng kém về võ lực nên Hán tộc thắng một cách dễ dàng. Mặt khác, các quốc gia Bách Việt ở tản mạn khắp Trung nguyên nên vì quyền lợi quốc gia, xem nhẹ tình đồng chủng nên không biết đoàn kết để thống nhất sức mạnh mà thường đánh lẫn nhau để giành ngôi vị thủ lĩnh. Thời Xuân Thu Chiến Quốc với sự hưng thịnh của Ngô, Việt, Sở vùng lên làm bá chủ Trung Quốc một thời gian, sau đó Ngô lại đánh Việt, Việt diệt Ngô rồi Sở diệt Việt để rồi cuối cùng lại bị Hán tộc thống trị như cũ.

     Cuối đời Đường, tình hình Trung Quốc tam phân ngũ liệt nên sử sách gọi thời kỳ này là thời Ngũ đại Thập quốc. Ở miền Bắc gồm 5 triều đại nối tiếp là: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu được xem là chính thống của Trung Quốc. Trong khi đó ở miền Nam, cư dân Hoa Nam gốc Việt nổi lên giành độc lập và thành lập 10 nước Bách Việt gồm:

- Nước Ngô do Dương Hành Mật lập ra ở An Huy.

- Nước Thục do Vương Kiến thành lập ở Tứ Xuyên.

- Ngô Việt do Tiền Cù thành lập ở Triết Giang.

- Sở do Mã Ân lập ra ở Hồ Nam.

- Mân do Vương Thẩm thành lập ở Phúc Kiến của Mân Việt.

- Nam Hán do Lưu Ẩn thành lập ở Quảng Đông. Thực ra tên nước lúc ban đầu lấy tên rặng núi Ngũ Lĩnh ở Hoa Nam là Đại Việt đặt tên nước, rồi về sau đổi là Nam Hán vì ở phía Nam sông Hán.

- Nam Bình do Cao Bảo Dung thành lập ở Hồ Bắc.

- Hậu Thục do Mạnh Trí thành lập ở Tứ Xuyên.

- Nam Đường do Lý Thắng thành lập ở Giang Tô.

- Bắc Hán do Lưu Sùng thành lập ở vùng Sơn Tây phía Bắc sông Hán.

     Thực tế này được nhà Trung Hoa học, học giả H. Wiens nhận xét một thực trạng đau lòng là “Bao nhiêu cuộc trổi dậy của Bách Việt đều thất bại vì người Lĩnh Nam tự phá lẫn nhau…”. Lịch sử đã chứng minh khi các chi Việt thuộc các nước Ngô, Việt, Sở bỏ Hoa Nam chạy xuống Bắc và Trung Việt Nam hợp nhất với Lạc Việt và các chi Việt khác định cư tại đây từ trước tạo nên một sức mạnh tổng lực nên đã đánh thắng bao cuộc xâm lược của Hán tộc để tồn tại mãi tới ngày nay. 

     Thế là từ huyền thoại đến hiện thực lịch sử đã minh nhiên xác định Việt tộc bao gồm rất nhiều chi tộc như Lạc Việt, Âu Việt, Mân Việt, Dương Việt, Đông Việt, Liêu Việt, Quỳ Việt, Điền Việt, Kiềm Việt, La Việt... Sử gia Tư Mã Thiên trong bộ Sử Ký đã viết: “Nước Sở, nước Việt đều là dân Việt. Dân nước Sở họ Mị, dân nước Việt họ Tự (Từ)”. Nhà nghiên cứu Tscheppe ghi nhận Phù Sai, Hạp Lư, Câu Tiễn đều là họ Việt. Người Mường là người Việt cổ sơ còn giữ được một vài họ cổ là họ Ai, họ Kem, họ Khói, họ Sa, họ Xạ. Hiện nay đồng bào Mường còn giữ một số họ như Bạch, Bùi, Cao, Đinh, Hà, Hoàng, Lê, Phạm, Quách, Trịnh Xa trong đó Đinh, Quách, Bạch, Hoàng là nhiều nhất.

     Cổ sử Trung Quốc cho biết Hoàng Đế Li Vưu, cổ thiên tử là thủ lĩnh của Tam Miêu chính là đồng bào Hmong Mien gồm đồng bào Dao và Miêu (Mèo) trước đây một thời làm chủ Trung nguyên. Tất cả đồng bào thiểư số đều là những chi tộc Việt, là anh em cùng chung một bào thai của mẹ Âu nên chúng ta vẫn gọi nhau một cách thân thương là đồng bào, là bà con cô bác, chú dì, anh chị…


PHẠM TRẦN ANH

[1]. Theo “Bách Việt Ngọc phả Truyền thư” thì sau chiến thắng lẫy lừng Đống Đa đẩy lùi 20 vạn quân Thanh xâm lược vị Hoàng Đế anh minh lỗi lạc của dân  tộc đã thân hành đến nói chuyện thân mật với các vị bô lão, hương chức và dân làng Vân Lôi.
[2] Bùi Văn Nguyên: Việt Nam và Côi Nguồn Trăm Họ, NXB Khoa Học Xã Hội 2001 tr 261.