Bước sang thiên niên kỷ thứ ba, ánh sáng của sự thật soi rọi vào quá khứ bị che phủ hàng ngàn năm bởi kẻ thù Hán tộc bành trướng.
Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải nhìn lại toàn bộ lịch sử Việt để phục hồi sự thật của lịch sử để xóa tan đám mây mờ che lấp suốt mấy ngàn năm lịch sử bởi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc. Trong lịch sử nhân loại, có lẽ không một dân tộc nào chịu nhiều mất mát trầm luân như dân tộc Việt với những thăng trầm lịch sử, những khốn khó thương đau.
Ngay từ thời lập quốc, Việt tộc đã bị Hán tộc với sức mạnh của tộc người du mục đã đánh đuổi Việt tộc phải rời bỏ địa bàn Trung nguyên Trung Quốc xuống phương Nam để rồi trụ lại phần đất Việt Nam bây giờ. Trải qua gần một ngàn năm đô hộ, với chiến thắng Bạch Đằng Giang năm 938 của Ngô Quyền mới chính thức mở ra thời kỳ độc lập của Việt tộc.
Trong suốt trường kỳ lịch sử, tuy bị Hán tộc xâm lấn phải bỏ trung nguyên xuống phương Nam nhưng nền văn hóa của Việt tộc đã thẩm nhập vào đất nước và con người Hán tộc để hình thành “Cái gọi là văn minh Trung Quốc”.
Chính sử gia chính thống của Hán tộc là Tư Mã Thiên đã phải thừa nhận một sự thực là: “Việt tuy gọi là man di nhưng tiên khởi đã có đại công đức với muôn dân vậy...”.
“Vạn thế sư biểu, Người Thầy muôn đời” của Hán tộc là Khổng Tử đã phải ca tụng nền văn minh rực rỡ, xác nhận tính ưu việt của nền văn minh Bách Việt ở phương Nam. Trong sách Trung Dung Khổng Tử đã viết như sau:
illuminates the true past that had been covered for thousands of years by our Chinese enemy. We need to see the light of the objective truth now. At the threshold of the third millennium, the light of truth illuminates the true past that had been covered for thousands of years by our Chinese enemy.
In the second millennium, mankind was shocked before the so-called ‘Greece-Roman paradox’ as the whole world previously discerned that all the Western civilization belonged to the Roman and Greece Empires, and then they had to confirm that it was from the civilization of old China too. At the end of the second millennium, mankind was shocked again to find that the so-called Chinese civilization was originally from Malyo-Viets.
The key thing for us is to review the entire history of Vietnam to restore the historical truth in order to dispel the dark clouds that have palled over our history for thousands of years. In the human history, perhaps no people have experienced so many glorious ups and painful downs in the course of our history as did the Vietnamese people. Right from the national foundation, Vietnamese people were hit and chased by Chinese people with the power of nomads, and then Vietnamese people had to leave their homeland and moved southward to settle on the land where Vietnam is now.
After nearly one thousand years under China’s domination, Ngo Quyen defeated the South Han in the battle on Bach Dang river in 938, officially opening an era of independence for Vietnam.
“Độ luợng bao dung, khoan hòa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử ứng xử như vậy… Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường đạo hành động như thế!”
Trong kinh “Xuân Thu”, Khổng Tử đã ghi lại bao nhiêu trường hợp cha giết con, con giết cha, cha cướp vợ của con, con cướp vợ của cha, anh chị em dâm loạn với nhau, bề tôi giết chúa...
Điều này chứng tỏ Hán tộc du mục vẫn còn dã man mạnh được yếu thua, bất kể tình người, bất kể luân lý đạo đức. Thế mà chính sử Trung Quốc cứ vẫn miệt thị Việt tộc là man di, các Thứ Sử Thái Thú Hán vẫn lên mặt giáo hóa dân Việt trong khi Bách Việt ở phương Nam đã đi vào nền nếp của văn minh nông nghiệp từ lâu.
Chính vì vậy, “Vạn Thế Sư Biểu” của Hán tộc là Khổng Tử đã phải đem những nghiên cứu, sưu tập, học hỏi tinh hoa của nền văn minh Bách Việt phương Nam đặt để thành những tôn ti trật tự, những giá trị đạo lý để giáo hóa Hán tộc du mục. Tất cả năm bộ Kinh Điển, “Ngũ Kinh” được xem như tinh hoa của Hán tộc đã được chính Khổng Tử xác nhận là ông chỉ kể lại “Thuật nhi bất tác”, chép lại của tiền nhân chứ không phải do Khổng Tử sáng tác.
Ngày nay, sự thật lịch sử đã được phục hồi khi giới nghiên cứu đều xác nhận hầu hết các phát minh gọi là văn minh Trung Quốc, từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh kim loại, kỹ thuật đúc đồng, cách làm giấy, cách nấu thủy tinh, cách làm thuốc súng, kiến trúc nóc oằn mái và đầu dao cong vút... tất cả đều là của nền văn minh Bách Việt.
Periodically, although we were invaded by China and forced to migrate to the south, the culture of Vietnamese people made its way into China, creating a so-called Chinese civilization. Sigma Qian, a noted historian of Chinese people, had to admit the fact that: "Although the Vietnamese were viewed as barbarians, at the beginning they had the great merit to all peoples ...”.
Confucius, a great Chinese scholar, praised the brilliant civilization and confirmed the superiority of Bai-Yue Civilization in the southern part of China: Vietnam. In the book “Doctrine of the Mean” Confucius wrote:
"Tolerance, generosity and kindness, no sense of vengeance against the immoral man: these are the source of power of the South, and it is the quality of a gentleman .. ! Wearing armor, riding horse, going to the battle field without fear of death: these are the source of power of the North, and it’s the strength of a bellicose man.”
In Spring and Autumn Analects, Confucius typified many incidents where a father killed his son, a son murdered his father, a father disgraced his son’s wife, a son abused his father’s concubine, a brother and a sister engaged in incestuous relationship, a subject assassinated his king, and so on.
This proved nomadic Han-Chinese were barbarous in the manner of survival, regardless of human love and morality. Ironically, the invaders viewed Vietnamese as barbarians.
Chính Hán Hiến Đế, vị vua cuối cùng của triều Hán đã phải thừa nhận như sau:“Giao Chỉ là đất văn hiến, núi sông hun đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất”.
Hơn lúc nào hết, tìm hiểu về huyền thoại Rồng Tiên, khởi nguyên dân tộc Việt Nam thời Lập Quốc với Quốc Tổ Hùng Vương là một yêu cầu lịch sử hết sức cần thiết. Trong ý hướng đó, chúng tôi cố gắng tóm gọn lịch sử Việt từ thời lập quốc cho đến ngày nay trong tác phẩm “Việt Nam Nước Tôi” để thế hệ trẻ Việt Nam hiểu rõ tường tận lịch sử Việt Nam.
Một khi thế hệ con em chúng ta hiểu rõ về bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc Việt, về đời sống văn hoá tâm linh Việt, về những lễ tết, hội hè đình đám của dân tộc Việt thì thế hệ con em chúng ta sẽ thấy rõ hơn giá trị cao đẹp của bản sắc văn hóa truyền thống nhân bản Việt.
Con em chúng ta có quyền tự hào là “Con Rồng Cháu Tiên” của một dân tộc có lịch sử lâu đời như danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi đã tuyên xưng: “Chỉ nước Đại Việt ta từ trước, mới có nền văn hiến ngàn năm”.
Chúng ta phải làm sao xứng đáng với tiền nhân, chúng ta phải làm gì để không hổ thẹn với hồn thiêng sông núi, với anh linh của những anh hùng liệt nữ Việt Nam. Toàn thể đồng bào trong nước và Hải ngoại cùng nắm chặt tay nhau, muôn người như một, cùng đứng lên đáp lời sông núi để cứu quốc và hưng quốc, tô điểm giang sơn gấm vóc, xứng danh ngàn năm dòng giống Lạc Hồng.
On the contrary, the Baiyue in the south already had the agricultural civilization for a long time prior to the “Han civilization” interference.
Confucius, the ever master of all times of Han Chinese, himself researched, collected, and learned from the civilization of Baiyue in the south, from which he brought the moral rules to the savage society in the north. All ‘Five Classics’, the quintessence of Han-Chinese, were authored by Confucius who admitted that he just repeated what his predecessors left without any inventions of his own.
Nowadays, the truth of history is recovered when all researchers affirm that most inventions which used to be considered as of the Chinese civilization-the agricultural advancement to the metallurgy, bronze-casting techniques, paper-making, glass-melting, gunpowder-making, architecture of sweeping roofs and curved knives... all belonged to Baiyue’s civilization. The Emperor Xian of Han, the last emperor of the Han dynasty, also admitted that: “Jiaozhi is a civilized land with many rivers, mountains, jewels, cultural objects and talented people.”
Coeval with the dawning of Vietnamese civilization, it is necessary to learn about the legend of The Fairy and The Dragon, foundation of Vietnamese nation and the beginning of the State by the National Ancestor ‘Hung King.’ Our filial generations will know clearly about the traditional cultural characteristics of the Vietnamese together with the spiritual cultural life, such as Tet holidays, and the meanings of other Vietnamese festivities. As such, our filial generations will thoroughly understand more clearly about the noble and beautiful values of the traditional culture characteristics of the Vietnamese.
Chúng ta hãnh diện được làm người Việt Nam thuộc một đại chủng lớn của nhân loại để ngẩng cao đầu sánh vai cùng các cường quốc trong thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại. Chính niềm tự hào dân tộc sẽ thôi thúc lòng yêu nước của toàn thể đồng bào Việt Nam chúng ta, nhất là thế hệ trẻ trong nước và Hải ngoại để vươn lên làm một cuộc cách mạng Đại Việt Nam: “Cách Mạng Hóa - Hiện Đại Hóa Việt Nam”. Điều kiện khách quan của lịch sử đã tạo cho dân tộc chúng ta một thế hệ trẻ có đầy đủ tri thức thời đại để hoàn thành một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật siêu vượt, đưa đất nước chúng ta bước lên sánh vai cùng các cường quốc trong thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại.
Trong ý hướng đó, quyển sách này được viết ra với một mong muốn tha thiết được giới trẻ đón nhận như một quyển sách gối đầu giường, một “Cẩm Nang” của một con dân đất Việt để chúng ta cùng nhau góp phần chuyển đổi lịch sử để Cứu Quốc, Kiến Quốc và Hưng Quốc.
We are proud that we are the children of ‘The Fairy and The Dragon’, the ancestors of a nation which has a long-standing history. Nguyen Trai, a cultural celebrity, declared: “To this day, only our Great Yueh (Viet) had thousands of years’ civilization”.
We are proud to be the Vietnamese, one of the biggest races of mankind, and we can keep abreast with powerful countries in the third millennium. We have to make sure that we deserve all the things that our ancestors have founded, and we must do good things for our country and sing of the sacred souls of Vietnamese heroes’ and heroines’ praises.
All Vietnamese at home and abroad, let’s hold our hands and let’s stay united as one. We will save our country, and turn it into a developed nation, which deserves the fame of Lac Hong-another name of the Vietnamese race. It’s our pride as the Vietnamese which excites patriotism within all Vietnamese people, especially the young generations, at home and abroad, to carry out a democratic revolution, to modernize our nation. Objective conditions of history help our young generations to have modern knowledge to fulfill transcendent scientific and technical revolution and make our country prosperous and powerful, to keep abreast with powerful countries in the third millennium.
Tân Tổng thư ký Liên Hợp Quốc chính thức tuyên thệ nhậm chức
Thu Hoài |
Ông Guterres. (Ảnh: moroccoworldnews.)
Bao kỳ vọng đang được đặt vào vị tân Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, ông Antonio Guterres. Cựu Thủ tướng Bồ Đào Nha Antonio Guterres hôm 12/12 sẽ tuyên thệ nhậm chứcTổng thư ký Liên Hợp Quốc (LHQ) trước đại diện 193 quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc, một sự kiện quan trọng trước khi ông Guterres chính thức tiếp nhận vai trò này từ ngày 1/1 năm tới từ người tiền nhiệm Ban Ki Mun. Trong phiên họp của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc diễn ra hôm nay tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở thành phố New York, Mỹ, tân Tổng thư ký Antonio Guterres sẽ chính thức tuyên thệ nhậm chức. Theo dự kiến, ông Guterres sẽ có bài phát biểu vạch ra kế hoạch cho những vấn đề toàn cầu hiện nay, cũng như việc cải tổ Liên Hợp Quốc. Ông Antonio Guterres, 67 tuổi là một chính trị gia dày dặn kinh nghiệm của Bồ Đào Nha. Được bầu làm lãnh đạo đảng Xã hội khi mới 43 tuổi, ông Guterres đã trở thành Thủ tướng nước này chỉ 3 năm sau đó. Trong 8 năm giữ cương vị Thủ tướng, ông Guterres được đánh giá có nhiều đóng góp vào công cuộc cải tổ hệ thống tài chính của Bồ Đào Nha và đưa nước này gia nhập Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone). Khoảng thời gian 10 năm đứng đầu Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn từ năm 2005-2015 có lẽ là thời điểm ông được biết đến nhiều nhất vì đã góp phần quan trọng giải quyết những cuộc khủng hoảng tị nạn tồi tệ nhất trong lịch sử thế giới, như tại Syria, Afghanistan và Iraq. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sắp mãn nhiệm Ban Ki-moon đã ca ngợi ông Antonio Guterres là sự lựa chọn tuyệt vời để kế nhiệm ông, trong khi Tổng thống Mỹ Barack Obama đánh giá ông là một nhà lãnh đạo hiệu quả mà Mỹ luôn chờ đợi được làm việc cùng. Tổng thống Mỹ nói: “Ông Antonio Guterres đã đắc cử một vị trí có ảnh hưởng và tác động lớn đối với toàn thế giới. Một điều may mắn là ông Guterres đã tạo được tiếng vang và làm việc hiệu quả trên cương vị người đứng đầu Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn. Vì thế, tôi có niềm tin mạnh mẽ rằng, tân Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ trở thành một nhà lãnh đạo cực kỳ hiệu quả, mà Mỹ luôn mong mong đợi được làm việc cùng." Tầm ảnh hưởng và kỹ năng phong phú Việc ông Antonio Guterres trở thành Tổng thư ký thứ 9 của Liên Hợp Quốc mang theo nhiều kỳ vọng, thể hiện rõ ở việc ông đắc cử mà không vấp phải bất kỳ sự phản đối nào, đặc biệt là của các quốc gia ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc. Theo các nhà phân tích, điều này cho thấy, ông Guterres có tầm ảnh hưởng lớn và các kỹ năng lãnh đạo thuần thục để chèo lái con thuyền Liên Hợp Quốc vượt qua một trong những thời khắc khó khăn nhất trong lịch sử 71 năm tồn tại của mình. Đây cũng chính là một lợi thế giúp ông thực hiện những cải cách trong Liên Hợp Quốc. Tổng thư ký mới của LHQ Guterres sẽ đấu tranh vì những người yếu thế VOV.VN - Tân Tổng thư ký LHQ Guterres sẽ ưu tiên làm dịu nỗi khổ của những người yếu thế, đặc biệt là những người tị nạn và những người ở các vùng xung đột. Phát biểu ngay sau khi đắc cử, ông Guterres đã cam kết hành động vì một Liên Hợp Quốc hiệu quả hơn, có năng lực hơn: "Tôi tin rằng, vai trò lãnh đạo Liên Hợp Quốc là đặc biệt quan trọng, mang tính sống còn. Chúng ta cần một Liên Hợp Quốc hoạt động hiệu quả hơn, có năng lực hơn để phục vụ người dân, với những cải cách mạch mẽ về cách tiếp cận. Tôi sẽ nỗ lực hết sức để theo đuổi mục tiêu này để đảm bảo Liên Hợp Quốc có thể phát huy được vai trò của mình.” Kỳ vọng cũng mang theo những thách thức. Trọng trách của ông Guterres trên cương vị mới không hề dễ dàng. Theo Đại diện thường trực Pháp tại Liên Hợp Quốc Jean-Marc de la Sablière, một trong những bài toán hóc búa thử thách vai trò của vị Tổng thư ký mới của Liên Hợp Quốc chính là gây dựng lại sự đoàn kết trong đại gia đình Liên Hợp Quốc. Kể từ thời Chiến tranh Lạnh, chưa bao giờ cơ quan đa phương lớn nhất toàn cầu này rơi vào tình trạng thiếu đoàn kết như hiện nay. Tuy nhiên như Giám đốc chương trình HIV/AIDS của Liên Hợp Quốc (UNAIDS) Michel Sidibé, cựu Thủ tướng Bồ Đào Nha là một con người của “công bằng xã hội”. 10 năm lăn lộn tại những điểm nóng khủng hoảng trên thế giới để thực hiện các chương trình nhân đạo của Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn đã giúp ông Antonio Guterres có được những hiểu biết quý giá về các vùng đất cũng như nhu cầu nhân đạo và phát triển trên thế giới. Chính những điều này sẽ giúp củng cố hơn nữa chủ trương của ông về “một nền ngoại giao hòa bình”, tạo điều kiện cho các quốc gia thành viên có thể đến với nhau và vượt qua những khác biệt”./.
Mỗi dân tộc đều có những truyền kỳ lịch sử
được thần thoại hoá thể hiện lòng tự hào dân tộc mang tính sử thi của mình.
Thật vậy, huyền thoại Rồng Tiên về ngọn nguồn huyết thống Việt tuy đượm vẻ
huyền hoặc nhưng lại tràn đầy tính hiện thực, thấm đậm nét nhân văn của truyền
thống nhân đạo Việt Nam. Huyền sử con Rồng cháu Tiên là niềm tự hào của nòi
giống Việt. Đã là người Việt Nam thì từ em bé thơ ngây đến cụ già trăm tuổi, từ
bậc thức giả uyên bác đến bác nông dân suốt đời chân lấm tay bùn, không ai
không một lần nghe truyện cổ tích Họ Hồng Bàng. Thật vậy, ai trong chúng ta mà
không biết về nguồn cội Rồng Tiên với thiên tình sử của Bố Lạc Mẹ Âu mở đầu
thời kỳ lập quốc của dòng giống Việt.
Truyền thuyết Việt Nam nói đúng hơn, là
truyền kỳ lịch sử Việt Nam được hư cấu dưới lớp vỏ huyền thoại nhưng thực chất
dựa trên sự thật lịch sử được hư cấu như một huyền tích trong đó đề cao con
người với ý nghĩa nhân bản truyền thống.
Truyền thuyết Việt Nam biểu
trưng một triết lý văn hoá cao đẹp không những thấm đậm tính nhân đạo, chan
chứa vẻ nhân văn, mà còn tràn đầy tình đồng bào, nghĩa ruột thịt qua hình tượng
“Bọc điều trăm trứng nở trăm con”.
Từ ý niệm đồng bào dẫn đến lòng yêu nước,
thương nòi, yêu quê cha đất tổ, tất cả đã trở thành giá trị đạo lý truyền thống
của nền văn minh đạo đức Việt Nam. Henri Bernard Maitre một nhà Việt Nam Học đã
ca tụng nét đẹp văn hiến của Việt tộc qua đền thờ Văn Miếu:
PREFACE
Historically, each nation has a
tradition and culture that was made into a legend for the purpose of promotion
of the national pride with its epics. Indeed, the legend of Dragon and Fairy
about the origin of the Vietnamese race seems to be mysterious, but in reality,
it reflects the humanist characteristics of Vietnamese tradition. The legend of
the Fairy and the Dragon is the pride of Vietnamese people. Vietnamese people
from babies to ripe old-aged elders,
poor peasants to scholars, all have heard of the fairy tales about Hong
Bang Family. Indeed, we all know about our source, with the great love of
Father Dragon and Mother Fairy or "Luo (Lac) Father and Ou (Au) Mother”,
ancestors of the Vietnamese race.
Suffice to say that the
Vietnamese original legend in its historical tradition is imaginary. However,
it heightens our traditional humanism. The legend of Vietnamese origin
represents a noble cultural philosophy, for it is full of humanity, of fellow
countrymen’s love fictionized in the image of ‘a bag of one hundred eggs,
producing one hundred babies’ commonly known as ‘people of the same womb’.
From the fellow-citizen
concept to patriotism, love for homeland, all these have become the moral and
traditional values of Vietnamese ethic and civilization. Henri Bernard Maitre
praised the significance of Vietnamese culture through the Temple of Literature:
“Văn Miếu không phải để cầu kinh hay làm bùa phép mà là nơi trang trọng
ghi ơn các anh hùng dân tộc, các danh nhân văn hoá, các vị Tiến sĩ với những
chuẩn mực đạo đức để con cháu đời sau ghi sâu vào tâm khảm bài học về đạo làm
người Việt Nam, xứng đáng với hoài bão của Tiền Nhân”.
Đối với người Việt, việc thờ cúng Ông bà
Tiên tổ là đạo lý làm người trong đời sống tâm linh của người Việt. Từ xa xưa
người Việt coi trọng đạo nghĩa nên thường nghĩ tới ngày giỗ của người thân hơn
là chú trọng đến ngày “sinh nhật” của mình. Ngày nay, dù giới trẻ quan tâm
nhiều đến ngày sinh nhật nhưng cũng không quên những ngày kỵ giỗ người thân
trong gia đình. Đạo thờ cúng ông bà là một “Việt Đạo” thể hiện đạo lý làm người
Việt Nam. Linh mục Cadière một Thừa sai ngoại quốc đến Việt Nam truyền giáo
phải thốt lên: “Việt Nam là một dân tộc
có tinh thần tôn giáo cao độ.”. Học giả P. Mus nghiên cứu về Việt Nam cũng
thừa nhận rằng “Dân tộc Việt có một đời
sống tâm linh cao, người Việt không làm việc, họ tế tự”. Thật vậy, người ngoại
quốc ngạc nhiên khi thấy “Mỗi gia đình
Việt Nam là một nhà thờ, nhà nào cũng có bàn thờ gia Tiên ở chính giữa nhà. Trong
đời sống tâm linh Việt, Nhất cử nhất động, việc gì cũng tràn đầy tính chất
thiêng liêng, thờ phượng, tế lễ, cúng giỗ với tất cả tấm lòng chí thành… Người
Việt không tham dự vào các buổi lễ để được ban phát ân sủng, mà họ hiệp thông
cầu nguyện như một người “Tư Tế” với tất cả tính chất thiêng liêng của một tôn
giáo”.
“This Temple is not a
place to pray or to make amulets. It is a formal place to honor our national
heroes, our cultural elites, our doctorates with high ethical standards, and
their names were engraved on stone-slabs, so that the future generations of
Vietnamese would learn about our proper behaviors, worthy of the aspirations of
our ancestors.”
For Vietnamese, the act of
worshiping our ancestors is the moral standards in the spiritual life of the
Vietnamese people. Since the ancient time, Vietnamese people have highly
revered moral principles, so we often think about the commemoration of our
relatives’ deaths rather than focusing on our birthdays.
Today, although young
people are more interested in their birthdays, they do not forget to
commemorate their passed-away relatives. Worshiping our ancestors is a ‘Vietnamese
religion’ showing moral standards of the Vietnamese. Cadière, a Catholic priest
who came to Vietnam to evangelize Christianity, had once confessed that Vietnam
was a nation of high religious spirit.
P. Mus, a scholar, when
observing the Vietnamese, also acknowledged that Vietnamese people had a high
spiritual life:
“Vietnamese people did
not work, they worship. Indeed, foreigners were surprised to see that every
Vietnamese family had an ancestor altar in the middle of their homes. In the
Vietnamese spiritual life, every movement is full of a sacred nature, and they
worshipped their ancestors with all their hearts. This is the unique
Đây chính là truyền thống tâm linh thấm
đậm bản sắc dân tộc, tràn đầy vẻ nhân văn của triết lý văn hoá nhân chủ Việt
Nam. Trong đời sống tâm linh Việt không chỉ hiển hiện ở bàn thờ Gia Tiên mà đền
thờ ngự trong tâm thức mỗi người. Điều này thể hiện giá trị cao đẹp đặc trưng
đời sống tâm linh của người Việt cổ.
Thờ cúng tổ tiên chính là đạo lý làm
người, là cái gì thiêng liêng cao cả truyền từ đời này sang đời khác. Chính
dòng sống tâm linh này đã góp phần bảo tồn dòng giống Việt.
Truyền thống thờ cúng ông bà không còn là
một tập tục, một tín ngưỡng đơn thuần mà đã trở thành đạo lý của dân tộc.
Thờ cúng ông bà được xem như Tổ Tiên chính
giáo của đạo làm người Việt Nam mà Nguyễn Đình Chiểu một sĩ phu yêu nước thế kỷ
XIX đã ân cần nhắc nhở “Thà đui mà giữ đạo nhà, Còn hơn sáng mắt ông cha không
thờ”.
Người Việt Nam ai cũng biết uống nước phải
nhớ nguồn vì “Công cha như núi Thái Sơn,
nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn đạo
hiếu mới là đạo con... và “Ơn cha mẹ
thề không lỗi đạo, Thờ sống sao thờ thác làm vầy. Công cha nghĩa mẹ xưa nay,
Con nguyền ghi nhớ thảo ngay một lòng”. Đây chính là điểm độc đáo của dòng sống
tâm linh Việt vẫn tiếp nối truyền lưu trong mỗi con người Việt Nam chúng ta hôm
nay và mãi mãi về sau. Thật vậy bên cạnh đời sống thực tế khổ đau trước mắt,
vẫn hiển hiện một đời sống tâm linh sâu thẳm, thấm đậm tính nhân bản hiện thực.
characteristic that is
imbued with the deep national identity, full of the democratic and humanistic
cultural philosophy. As a matter of fact, the Vietnamese spiritual life does
not only emblem through the ancestral altar, but also in the altar on the mind
of each person. This
represents the good values that characterize the spiritual life of the ancient
Vietnamese people.
Ancestors worshiping is
human morality; it is something noble and spiritual handed down from generation
to generation. This spiritual life has contributed to the conservation of the
Vietnamese heredity. Ancestor worshiping tradition is no longer a practice, a
simple creed, but it has become a national standard of morality.
Ancestor worshiping is
considered the orthodox religion of Vietnamese people. Do Chieu, a patriot in
the 19th century graciously reminded us, "It’s
better to be blind to conserve our moral conformity than not worshiping our
ancestors while our eyes are good.". Everyone of us Vietnamese knows
that when we drink water, we need to know where it comes from, because: "Our father’s kindness is as great like
Great Mountain, and our mother’s love is as sourceful as the water flowing out
from a stream. We must respect our parents and fulfill our filial duties...!
Parents’ kindness to us is undeniably great and unforgettable, regardless of
their being alive or in the great beyond. Past and present, we ought to be
grateful to parents’ kindness forever”. This is the uniqueness of
Vietnamese’s spiritual life that each Vietnamese observes today and forever
after. Undeniably, besides the real life’s sufferings and hardships, Chính dòng sống tâm linh đó đã tạo cho mỗi
người Việt Nam một quan niệm sống lạc quan yêu đời, an nhiên tự tại nhưng vẫn
sẵn sàng hy sinh mạng sống cho nền độc lập thực sự, quyền tự do thực sự và sự
ấm no hạnh phúc thực sự cho toàn dân Việt Nam.
Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm
từ khi lập quốc đến ngày nay với gần một ngàn năm đô hộ của giặc Tàu, gần một
trăm năm nô lệ giặc Tây và hơn nửa thế kỷ nô dịch chủ nghĩa vô thần, Hán hóa
dân tộc. Trong suốt trường kỳ lịch sử, Hán tộc bành trướng với ưu thế của một
nước lớn đất rộng người đông cùng với những thủ đoạn thâm độc quỷ quyệt xóa đi
mọi dấu vết cội nguồn, bóp méo sửa đổi lịch sử khiến thế hệ sau chỉ biết tìm về
lịch sử trong cái gọi là “Chính Sử” của đế quốc “Đại Hán”.
Mỗi một triều đại Hán tộc đều chủ tâm thay
đổi địa danh, thủy danh xưa cũ của Việt tộc cùng với ảnh hưởng nặng nề của gần
một ngàn năm nô dịch văn hóa khiến nhiều người chấp nhận tất cả như một sự thật
mà không một chút bận tâm. Thế nhưng dưới ánh sáng của chân lý khách quan trước
thềm thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại, lịch sử vẫn là lịch sử của sự thật dù
bị vùi lấp hàng nghìn năm bởi lớp bụi của thời gian cũng như bị sửa đổi, bóp
méo, xuyên tạc bởi sức mạnh của Hán tộc thống trị.
Trước đây, nhân loại cứ tưởng tất cả nền
văn minh Tây phương là của Hy Lạp La Mã, để rồi phải xác nhận nền văn minh đó
đến từ nền văn minh của Trung Quốc. Cuối thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại lại
ngỡ ngàng khi thấy rằng cái gọi là nền văn minh Trung Quốc lại chính là nền văn
minh của đại chủng Bách Việt.
we all enjoyed being embraced by our traditional deep and noble
spiritual life. It enlivens within each Vietnamese an optimistic living
concept, love for life and leisure, together with the will to readily sacrifice
our lives for the true independence, the true freedom, prosperity and happiness
for all Vietnamese people.
Vietnamese history is the
one full of rises and falls of a nation from the dawn of its foundation till
today, in which it suffered for nearly one thousand years under Chinese
domination, nearly one hundred years under French colonialism, and more than a
half century of subjugation by foreign ideologies. During the course of our
history, many a time, Chinese people, simmering in their expansionism by all means
and with wicked and diabolic tricks, have attempted to invade our country. Every time they were able
to occupy our land, they exerted any way possible to destroy all traces of our
roots, our civilization, and our culture. Simultaneously they distort and flip
our history and replace it with something vague and chaotic that hampers the
later generations Vietnamese from their aboriginal race and pride of their
people.
Each Chinese dynasty kept renaming the names of places purposefully,
the chorographical features of our lands and rivers. More or less the
Vietnamese people for nearly one thousand years under Chinese domination had been
severely influenced by their mischievous policy of the cultural slavery that
made accept all the “false”, without questioning. However, history must be the truth, whether it has been
distorted or buried for thousands of years.
KỶ NIỆM NGÀY QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN LẦN THỨ 68 VÀ LỄ TRAO GIẢI NHÂN QUYỀN VIỆT NAM 2016 TẠI BOSTON, MASSACHUSETTS,HOA KỲ (Tùng Nguyễn)
Liên tục trong 15 năm, kể từ 2002, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam đã lần lượt tổ chức lễ trao Giải Nhân quyền Việt Nam tại nhiều nơi trên thế giới vào dịp tưởng niệm Ngày Quốc tế Nhân Quyền. Năm nay Lễ trao Giải Nhân Quyền Việt Nam lần thứ 15 đã được long trọng diễn ra tại Hội trường Nhà thờ St. Gregory thuộc thành phố Dorchester tiểu bang Massachusetts vào chiều ngày 11 tháng 12 năm 2016 nhân Ngày Quốc Tế Nhân Quyền lần thứ 68. Buổi lễ được tổ chức do sự hợp tác giữa Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, Cộng đồng Việt Nam tại Massachusetts, và Phong trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại tại Boston.
Tham dự buổi lễ có khoảng 200 đồng hương, đại diện các đoàn thể trong vùng Boston và các Ban chấp hành Cộng đồng Người Việt những tiểu bang lân cận như New York, Connecticut, và New Hampshire. Ngoài ra cũng có nhiều đồng hương đến từ Canada, và phái đoàn Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ, và phái đoàn Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội và Hải Ngoại. Về phía quan khách chính quyền địa phương có Ông Phạm Văn Nam, Thứ trưởng Bộ Kinh tế, đại diện Thống đốc tiểu bang Massachusetts, Dân biểu Keiko Orrall, Ông Michael Moynihan, đại diện Thượng nghị sĩ Mark Montigny.
Sau nghi thức khai mạc, chương trình được bắt đầu bằng diễn văn chào mừng quan khách của Ông Thân Vĩnh Bảo Toàn, Chủ tịch Cộng đồng Việt Nam tại Massachusetts. Ông nhấn mạnh đến nghĩa vụ của tập thể người Việt hải ngoại nói chung, và của Cộng đồng Việt Nam tại Massachusetts nói riêng trong việc yểm trợ công cuộc đấu tranh cho Tự do-Dân chủ-Nhân quyền của đồng bào trong nước. Ông cũng bày tỏ niềm hãnh diện được cộng tác với MLNQVN để tổ chức Lễ trao Giải Nhân quyền năm 2016. Tiếp đến là diễn văn của Ts Nguyễn Bá Tùng,Trưởng Ban phối hợp MLNQVN, về ý nghĩa Ngày Quốc tế Nhân Quyền lần thứ 68 trong bối cảnh việc vi phạm các quyền cơ bản tại Việt Nam càng ngày càng trở nên tệ hại hơn. Ông nói: “sau gần 3/4 thế kỷ tại Miền Bắc và hơn 40 năm ở Miền Nam Việt Nam, cuộc chiến đấu dành lại quyền làm người đích thực từ chế độ bạo tàn cộng sản vẫn tiếp diễn, và càng ngày càng khốc liệt hơn, càng khẩn trương hơn. Do đó, buổi hội ngộ hôm nay cũng là dịp để chúng ta hướng về quê hương ở đó đồng bào chúng ta, đặc biệt là các chiến sĩ nhân quyền, đang ngày đêm dấn thân vào cuộc chiến đấu gian lao và dũng cảm để dành lại quyền làm người, mà những người nhận Giải Nhân Quyền Việt Nam năm nay: Mạng Lưới Blogger Việt Nam, LS Võ An Đôn, và 2 nhà đấu tranh cho dân oan trần Ngọc Anh và cấn Thị Thêu là những tấm gương tiêu biểu.”
Cao điểm của buổi lễ là phần tuyên dương và trao giải. Bằng tiếng Việt và tiếng Anh, các thành viên trong Ban Tổ Chức đã lần lượt đọc lên thành tích đấu tranh cho nhân quyền của những khôi nguyên cũng như những gian khổ họ phải chịu đựng. Cũng như những lần trao giải trước đây, không một khôi nguyên nào có mặt để nhận giải cho nên các tấm huy chương đã được trao cho các đại diện của họ. Nhà hoạt động cộng đồng Đỗ Kỳ Anh đến từ Toronto (Canada) nhận giải thay cho Mạng Lưới Blogger Việt Nam từ TS Nguyễn Bá Tùng; nhà thơ Trần Trung Đạo thay mặt LS Võ An Đôn nhận giải từ GS Nguyễn Thanh Trang, cố vấn MLNQVN; nhà hoạt động cộng đồng Lạc Việt đến từ Vancouver (Canada) thay mặt Bà Trần Ngọc Anh nhận giải từ Ông Thân Vĩnh Bảo Toàn, Chủ tịch Cộng đồng Việt Nam Massachusetts; và nhà báo tự do Điếu Cày Nguyễn Văn Hải thay mặt Bà Cấn Thị Thêu nhận giải từ Ông Nguyễn Duy Quang, Trưởng Cơ sở Phong Trào Giáo dân VN Hải ngoại Boston.
Sau mỗi lần tuyên dương, cử tọa chăm chú theo dõi phát biểu của các khôi nguyên hoặc đại diện qua những đoạn video được phát trên màn hình lớn.
Tiếp theo phần trao giải, Thứ trưởng Phạm Văn Nam đã nhân danh Thống đốc Charlie Baker trao các bằng vinh danh của TB Massachusetts đến các khôi nguyên Giải nhân quyền VN 2016 và MLNQVN qua tay các vị đại diện. Dân biểu Keiko Orrall, nhân dịp nầy cũng nhân danh Quốc hội Bang Massachusetts tuyên dương thành tích hoạt động vì công ích của Cộng đồng Việt Nam tại massachusetts
Một số quan khách chọn lọc đã được mời phát biểu gồm Thứ trưởng Phạm Văn Nam, nhà bình luận Trần Trung Đạo, blogger Điếu Cày, BS Đỗ Văn Hội, Chủ tịch Hội đồng chấp hành Cộng đồng Người Việt Quốc gia Liên bang Hoa Kỳ.
Một số nghệ sĩ thiện nguyện ở Boston và từ xa đến đã làm sinh động buổi lễ với những ca khúc đấu tranh làm nức lòng người nghe.
Sau cùng, Ông Lại Tư Mỹ, thay mặt Ban Tổ chức, đã tuyển bố kết thúc buổi lễ và cám ơn chính quyền địa phương, đại diện các đoàn thể và đồng hương đã góp công sức để buổi lẽ được thành công tốt đẹp.
Nhiều thân hào nhân sĩ địa phương đã bày tỏ niềm phấn khởi trước sự kiện Lễ Trao Giải Nhân Quyền Việt Nam được tổ chức lần đầu tiên tại tiểu bang Massachusetts với sự trang nghiêm chu đáo. Nhiều người bùi ngùi lo lắng khi được biết hai vị được trao giải - Blogger Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, con chim đầu đàn của Mạng Lưới blogger Việt Nam vừa bị bắt, và nhà đấu tranh cho dân oan Cấn Thị Thêu vừa mới bị tòa án phúc thẩm cộng sản y án tù giam 20 tháng; tuy nhiên tất cả đều phấn khởi khi biết được rõ hơn là ở trong nước đã, đang và chắc chắn sẽ có những người dấn thân đấu tranh cho nhân phẩm và công lý chống độc tài, tham ô và bất công. Mọi người đều tin tưởng ở một tương lai tươi sáng cho dân tộc Việt Nam.
BIẾN CỐ 30 THÁNG 4… NGÀY MIỀN NAM TỦI NHỤC THÔI THÚC KẺ TU HÀNH
T
hế rồi, cơn “Ách vận đại biến” của đất nước bỗng chốc xảy đến, ngày 30 tháng 4năm 1975, ngày quốc hận "Hắc ám nhật tử" đổ ập xuống quê hương này bất ngờ như một cơn ác mộng hãi hùng. Tôi vô cùng trăn trở và ngỡ ngàng trước biến cố bất an cho cuộc đời, xã hội, con người, quê hương, đất nước, tôn giáo… Tất cả bị đảo lộn 100%, làm thay đổi xáo trộn hoàn toàn cuộc sống của người dân. Những nỗi đau thương tang tóc đã xảy đến cho bao gia đình, thật vô cùng “thiên tân vạn khổ”, nào là những cảnh chết chóc tù đày, chùa chiền, nhà thờ, Thánh thất, tôn miếu bị đập phá hoặc bị sung công, đất đai tài sản của dân chúng bị tịch thu, nhà tù mọc lên như nấm, hàng loạt bản án tử hình dành cho những người yêu nước chống cộng khắp toàn quốc.
Các Chư Tôn Hoà Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni, các Linh mục, Mục sư và Chức sắc các tôn giáo như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo và Bửu Sơn Kỳ Hương bị cô lập, quản thúc, quản chế, tù đày. Các bà mẹ góa, trẻ mồ côi, người tàn tật, kẻ nghèo đói, người hành khất phải sống lang thang nơi đầu đường xó chợ, ở dưới gầm cầu, ở xa cảng, ngoài hiên hàng, hiên quán và sống trong cảnh màn trời chiếu đất trông rất thảm thương. Sự thật tôi không thể nào tưởng tượng nổi.Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xây dựng chính quyền bằng lưỡi lê, họng súng và cai trị nhân dân bằng chính sách độc tài, phi dân chủ và vô nhân đạo bởi Cộng sản Việt Nam đã:
Biến Việt Nam thành tiền đồn đẫm máu
Làm cả đời lẫn đạo lắm điêu linh
Tiếng chuông chùa đã vắng bặt kệ kinh
Miếu thánh thất tiếng âm thinh tịch lặng!
Chuông giáo đường đã từ từ hoang vắng
Chùa, nhà thờ vườn cảnh trống người thưa
Người thay trâu kéo cộ để cày bừa
Bao cơ khổ sáng trưa tới tối!
Ăn cháo độn cùng củ khoai củ chuối
Biết bao người bị chết đói thảm thương
Kẻ ăn xin người hành khất vạn nẽo đường
Phải trú ẩn ở nhà thương, bến cảng!
Ở dưới gầm cầu ở bên vỉa hè hiên quán
Cảnh màn trời chiếu đất ngán ngao thay
Quản lý dân bao sự nghiệp tiền tài
Bao vàng bạc bao lầu đài dinh thự!
Kẻ tiếc của đã phải toan tự tử
Hoặc làm người sống xa xứ lìa quê
Chốn núi rừng đồng hoang vắng thảm thê
Kinh tế mới ôi vạn bề thống khổ!
Cây xa cội nước xa nguồn, chim xa tổ
Vợ xa chồng, em lại phải lìa anh
Con xa cha xa mẹ kẻ đầu gành
Người cuối bể ôi cam đành ly cách!
Bởi nhớ con cha mẹ già bạc tóc
Vợ thương chồng tay ấp đứa con thơ
Sức mỏi mòn bởi tháng đợi năm chờ
Còn đàn trẻ bơ vơ côi cút!
Bao góa phụ khóc chồng thương tiếc
Trẻ sơ sinh chưa biết mặt cha
Chít khăn tang mí mắt ướt lệ nhòa
Ai gây cảnh phong ba nầy nhỉ!
Bởi Cộng Sản tham tàn ngạ quỷ
Dùng danh từ hoa mỹ bịp dân
Có những người theo Cộng Sản mấy mươi năm
Nay cuốn gói âm thầm sang nước khác!
Bởi bấy lâu say mê lầm lạc
Theo Lê- Nin theo Các Mác Tam Vô
Thì hỏi ai sống nổi với Cộng Nô
Sống với Cộng như lập mồ chôn sẵn!
Họ lợi dụng danh từ cách mạng
Và danh từ vô sản phi nhân
Để tóm thâu vơ vét của nhân dân
Thật chẳng khác là đảng băng ăn cướp!
Đồ phi nghĩa một đoàn quân ô hợp
Nói thương dân càng bóc lột dã man
Từ thành đô, tỉnh, huyện đến thôn làng
Quân Cộng Sản ban hành nhiều luật lệ!
Buộc nhân dân phải vào tập thể
Ban nhiều điều quy chế gắt gao
Lúa đo bồ còn thuế nặng sưu cao
Dùng từ ngữ thanh tao đảm phụ!
Bắt đi lính cho là nghĩa vụ
Bao nấm mồ vô chủ xứ người
Mẹ vắng con nên môi thiếu nở nụ cười
Chồng lìa vợ trách trời cao sao oan nghiệt!
Ai gây cảnh sanh ly tử biệt
Ai gây nên dân tộc Việt lầm than?
Ai hô hào xây dựng cảnh thiên đàng?
Và ai đã biến trần gian thành địa ngục?!
Hàng triệu người rời quê hương lũ lượt
Xa gia đình để cất bước muôn phương
Kẻ bị cướp tàu, người bị nhốt ở khám đường
Kẻ bị chìm đắm nơi trùng dương sóng cả!
Sống gửi thân nơi đất người xứ lạ
Xa gia đình mồ mả tổ tiên
Nhớ cố hương lòng khoắc khoải nỗi ưu phiền
Bởi Cộng Sản dùng cường quyền man rợ!
Bao nam nữ lỡ duyên lỡ nợ
Bao trẻ thơ bị dang dở học hành
Bao gia đình bao sự nghiệp tan tành
Bỏ tất cả để trở thành tay trắng!
Sân đại học ngày xưa thơ mộng lắm
Đến bây giờ cảnh buồn vắng sầu vơi
Bao thư sinh đi viễn xứ xa vời
Gió thu thổi lá rơi buồn rũ rượi!
Công viên vắng như nhớ nhung chờ đợi
Phượng lẻ sầu không phơi phới trỗ thêm hoa
Cô nữ sinh áo dài trắng thướt tha
Nay cắt ngắn áo bà ba lo cuộc sống!
Bao nỗi tủi nhục khổ đau của nhân dân đã đập vào mắt, đã ăn sâu vào não tôi, những hoàn cảnh thương đau từ cá nhân cho đến gia đình của đồng bào trong thời điểm này, chỉ còn biết đem đến cửa thiền môn, hoặc nhà thờ để giải bày tâm sự với những thầy tu mà thôi! Đây là cộng nghiệp (y báo), một sự khổ đau chung vì vận nước đang gặp thời điên đảo và không phải một, mà hàng trăm, hàng ngàn những nỗi khổ khác nhau của mọi người đã đem đến cửa chùa trút hết cho tôi. Tôi không hiểu, tại sao tôi phải thọ nhận một niềm đau khổng lồ như thế này! Bên cạnh, còn có nỗi bất công do những kẻ gian đảng đang mưu toan tiêu diệt Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất mà tôi là một thành viên, dầu chỉ là một thành viên thuộc cấp, cũng như những nguy cơ của tất cả các tôn giáo khác, tức nỗi đau của “Pháp nạn”. Thế là nhà tu này đã động não, động tâm rồi!
Ngồi mà suy niệm, chắc bản thân tôi cũng có quá nhiều nghiệp chướng từ trong quá khứ chăng, cho nên tôi không thể ngồi điềm nhiên tọa thị, để cầu xin hai chữ bình an. Tôi cảm thấy trong lòng sôi sục, có điều gì thúc giục mình như phải có trách nhiệm với những người bị hoạn nạn, với những nạn nhân của chế độ Cộng sản bạo quyền. Tôi đồng cảm và thương xót họ như chính bản thân mình. Tôi suy nghĩ kẻ nào làm đau khổ cho đồng bào, hình như cũng đang làm đau khổ cho chính bản thân tôi. Từ đó, tôi có một cái nhìn rất khắt khe, gần như căm giận cái ác, tôi muốn đẩy lùi cái ác, góp phần phát huy cái thiện. Tôi cũng tự lượng sức mình tài hèn, đức bạc, trí tuệ kém cỏi. Nhưng, lòng lại nhất quyết muốn làm cái gì đó để cứu nguy cho đồng bào, cứu đất nước mong sớm thoát qua khỏi vòng cơ hiểm và tôi bắt đầu có sự nhận xét, đánh giá một cách trung thực khác quan về sự lộng hành của chế độ đang cầm cờ phất phới trong tay.
Nhận thức rõ bản chất của chế độ cộng sản Việt Nam là phi nhân tính, phi tôn giáo, phi tổ quốc, phi dân tộc, phi nhân quyền và phi dân chủ. Tôi nảy ra ý định sẵn sàng tham gia cộng sự một cách tích cực với các tổ chức chính trị và thiết lập mối tương liên với các tôn giáo có cùng quan điểm để đấu tranh giải ách Cộng Sản, giải cứu đất nước và giải trừ pháp nạn, đòi phục hoạt Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đòi hỏi tự do, dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo cho người dân. Lúc bấy giờ đầu óc tôi suy nghĩ miên man, cho một cuộc dấn thân để góp phần làm tròn trách nhiệm của người dân trước những lâm nguy của đất nước. Có những lúc tôi lại liên tưởng đến Đức Bổn Sư Thích Ca từ phụ, Ngài là một đấng Toàn Giác, là bậc Đại Đạo Sư của nhân loại, Ngài là bậc Đại Y Vương, tinh thông y lý tuyệt vời để trị tâm bệnh cho loài người. Ngài là một vị có ân đức vô vàn của chúng sinh, là người vô tận vô biên của thế giới. Ngài cũng là một nhà đại cách mạng đứng đầu trang lịch sử cách mạng, làm cho lịch sử sống mãi muôn đời không bao giờ ai quên được.
Ngài sinh ra tại thế gian, thấy cảnh khổ của thế gian, Ngài xuất gia cũng tại thế gian, thành đạo tại thế gian và nhập niết bàn cũng ở cõi nhân gian này. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Người sáng lập ra đạo Phật, đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác. Đạo Phật ra đời cách đây trên 2500 năm nhưng, đã có mặt trên quê hương Việt Nam ngót gần 2000 năm lịch sử truyền thừa. Đạo Phật khai sáng bởi con người, để phụng sự cho con người. Đạo Phật lấy con người làm gốc, con người là mê, Đức Phật là giác, cả hai trong vòng đối đãi. Tinh thần nhân bản của Đạo Phật được thể hiện qua giáo lý bình đẳng Phật tánh, bình đẳng tánh trí cũng như hành động của những người con Phật, bao gồm các hàng phật tử xuất gia và tại gia. Đạo Phật chủ trương rằng con người phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về bản thân mình và xã hội mình, con người có thể thay đổi được bản thân và hoàn cảnh xã hội theo ý muốn, có thể hoán cải những điều kiện của cuộc sống, của những gì đã, đang và sẽ xảy ra. Tất cả đều có nguyên nhân và kết quả, do nghiệp tạo thành của chính con người tạo ra và cũng chính con người mới có thể chuyển được nghiệp ấy…
Con người có thể chuyển hóa làm đổi thay tất cả và tôi chợt nhớ lại lời dạy của Hòa Thượng Thích Tịnh Hạnh, Ngài là Y Chỉ sư của tôi, nguyên Chánh đại diện GHPGVNTN tỉnh Sóc Trăng có một dịp ghé chùa thăm tôi. Hoà Thượng bảo tôi rằng: “Người xuất gia phải lấy mục đích hoằng pháp là việc nhà, lấy lợi sinh làm sự nghiệp, ông hiện tại đang làm trụ trì, ông đã từng tham dự mấy khoá huấn luyện trụ trì chắc ông cũng hiểu, không phải trụ là ở, trì là giữ, tức là ở giữ chùa, làm công việc một ông từ cho Phật gọi là trụ trì đâu! Mà trụ trì tức là Trụ Pháp vương gia trì Như Lai Tạng". Ông cũng nên nhớ rằng "Sinh mạng của người xuất gia là Huệ mạng, nên cơm ăn là Pháp Vị Đề Hồ, áo mặc là Nhẫn nhục nhu hoà, nhà ở là tâm đại từ bi… ông nên nhớ là luôn luôn sinh hoạt phải cho hợp với Chánh pháp bởi vì nếu sai Chánh pháp thì tâm ta khó mà giữ được Chánh định, tức sẽ bị trần cảnh lôi cuốn, trần cảnh lôi cuốn thì pháp thân huệ mạng không còn...”.
Tôi luôn luôn ghi nhớ lời thầy giáo huấn. Thế nhưng, như tôi đã nói ở trên, vì chưa dứt sạch nghiệp chướng, cùng phiền não, vì phước mỏng nghiệp dầy, hoặc kiếp trước thiếu tu thiện pháp, gây nhiều ác nghiệp nên phải thọ khổ kiếp này. Đây cũng là oan gia nghiệp báo chăng ? Nên tôi không tránh được ác nạn cho bản thân, đành phải rời khỏi mái chùa bị mang án khổ sai lưu đày biệt xứ. Tôi không kịp từ giã quý Chư tôn Đức, Pháp quyến và quý Phật tử xa gần, ân Tam bảo, ân Đàn na tín thí tôi chưa đền trả được!Phải chăng sự dấn thân để bị tù đày này, cũng là một phần đáp ân Tổ quốc, một trong tứ ân như lời phật dạy?
Theo tôi, tất cả mọi thử thách đối với bản thân mình chỉ là do nghiệp duyên khảo đảo đối với kẻ tu hành mà thôi! Vì gặp sự chướng ngại, sự tác nghịch sẽ là sự tác thành. Tôi còn nhớ “Luận Bảo Vương Tam Muội có giảng dạy”: “Phật Đà thiết lập Chánh Pháp, lấy bệnh khổ làm thuốc hay, lấy hoạn nạn làm thành công, lấy gai góc làm giải thoát, lấy ma quân làm đạo bạn, lấy khó khăn làm sự tác thành, lấy bạn tệ bạc làm người giúp đỡ, lấy kẻ chống nghịch làm người giao du, lấy sự thi ân như đôi dép bỏ, lấy xả lợi làm vinh hoa lấy oan ức làm đà tiến thủ. Thế nên ở trong chướng ngại mà vượt qua tất cả”. Tôi đã ở ròng rã suốt 26 năm triền miên chịu cảnh trừng khảo trong nhà tù Cộng Sản hoặc do nghịch khảo của nhân duyên quả báo nên luôn phải kham nhẫn và không bao giờ thất thối đạo tâm, nếu nghĩ xa hơn có lẽ do túc thế, nghiệp căn đời trước tôi thường hay giam cầm, đánh đập, tra tấn trói buộc chúng sinh, nên nay phải chịu quả báo của thời kim thế. Thôi hãy cứ cho là như vậy...
SỰ PHỈ BÁNG, KHỦNG BỐ VÀ ĐÀN ÁP TÔN GIÁO CỦA NHÀ CẦM QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Tôi còn nhớ những sự việc sách nhiễu, uy hiếp của chính quyền Cộng Sản địa phương đối với bản thân và cơ sở thờ tự của tôi trong những tháng năm đầu của ngày quốc nạn khi những tên vô đạo, vô thần từ trong bưng biền lộ hình xuất hiện tại tỉnh Bạc Liêu. Tôi xin tóm lược một vài sự kiện như sau: Chỉ sau ngày 30-04-1975 vài hôm thôi, vào lúc khoảng 4 giờ chiều. Tôi trông thấy có một người trung niên, mặc bộ quần áo ni lông dù, màu xanh lá cây đã bạc màu và đội chiếc nón tai bèo, anh ta mang theo bên mình một khẩu súng ngắn đi xăm xăm vào cổng chùa. Gặp tôi anh ta tự giới thiệu mình tên “Hai Thổ” là xã đội trưởng, xã Châu Hưng, trông anh dáng vẻ hậm hực, thái độ bướng bỉnh, lời lẽ ngang tàng, cử chỉ vô lễ, nói năng kém học thức. Tôi không muốn nói là anh ta quá dốt, anh ta nhìn thấy lá cờ Phật Giáo năm màu đang tung bay trên cột cờ và nói: “Giờ này mà nhà chùa còn treo lá cờ của thực dân Pháp nữa à! bọn đế quốc Mỹ và ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn đã cuốn xéo bỏ chạy rồi, tại sao Pháp còn ở đây! thật là hết sức phản động, có lẽ cần phải cho đi học tập dài hạn mới được”.
Anh ta ngang nhiên bước chân vào chùa với cả đôi dép râu còn dính bùn đất và chiếc nón tai bèo anh vẫn đội trên đầu một cách tự nhiên của ông quan "Kách mệnh". Anh nhìn tượng Phật sơ sinh của đức Thích Ca Mâu Ni. Rồi chỉ tay, miệng mỉm cười khinh khỉnh nói: “Thằng Phật nhỏ xíu này nó không có công làm cách mạng để đánh đuổi đế quốc Mỹ, tại sao lại phải thờ nó, nó ngồi một chỗ, để chờ người ta đem quà lại dâng cúng. Nó là thành phần thuộc giai cấp bóc lột mà!”. Sau đó anh ta bước lên bậc thềm Chánh Điện lấy tay sờ vào tượng Phật Thích Ca Mâu Ni và nói “Thằng Phật nầy ăn gì mà mập quá vậy!”. Khi tôi bị cầm tù, tôi được quý đồng bào cho biết tên Hai Thổ đi vào chùa chỉ tay vào các pho tương Phật nói: “Thằng Thiện Minh đã bị bắt giam rồi, còn mấy thằng Phật xi măng nầy cũng sẽ áp giải đi luôn” mãi cho đến sau nầy cũng chính tên Hai Thổ, khi hắn đã là Bí thư xã uỷ xã Châu Hưng kiêm huyện uỷ viên, huyện Vĩnh Lợi, hắn đã ra lệnh tịch thu chiếm dụng phi pháp ngôi chùa Vĩnh Bình và dời tất cả tượng Phật sang chùa Giác Hoa tức chùa Cô Hai Ngó ở bên sông. Thế là bức tượng đồng đen 64 kg trong gia phả họ Trần, tổ phụ của Công tử Bạc Liêu là chủ ngôi chùa, đã bị cuỗm đi mất!
Một vài sự kiện xảy ra tiếp theo khiến tôi bị chính quyền tỉnh nhà chú ý theo dõi, Ban tôn giáo vận phân công ông Thượng Tọa Thích Hiển Giác đến chùa khuyến cáo tôi về những sự việc sau đây. Một hôm tôi nhận được thư mời của ông Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh là Ngô Tam Đạo tức ông Ba Giáo, mời tôi cùng một số chức sắc các tôn giáo trong tỉnh nhà, tất cả mọi người đều bị bắt buộc phải đến biển Bạc Liêu để lao động Xã Hội Chủ Nghĩa mang tính hình thức tượng trưng trong "Công tác thuỷ lợi”. Sở dĩ tôi gọi “Lao động mang tính hình thức” là chính quyền Bạc Liêu chỉ cần chức sắc các tôn giáo phải có mặt đúng thời gian, đúng địa điểm, khoảng 20 phút thôi, mỗi người cầm trên tay một cây cuốc, hoặc xẻng… để cho nhân viên chụp hình quay phim, rồi họ đưa xe chở về liền. Sau đó, họ sẽ phát lại trên đài truyền hình và đài truyền thanh trong tỉnh nhằm mục đích động viên đồng bào tỉnh nhà noi gương trên. Mọi người sẽ được Uỷ Ban Mặt Trận tỉnh thiết đãi một bữa cơm thân mật tại quán cơm "Sừng Ký ".
Họ thông báo sẽ cho xe đưa rước tận nơi. Nhận được giấy mời, tôi liên hệ với ông Linh Mục Nguyễn văn Nhì cha sở họ đạo tỉnh Bạc Liêu và Ngài Ngọc Phương đầu tộc huyện Vĩnh Lợi. Cả ba người chúng tôi cùng đến trước một ngày để gặp ông Ngô Tam Đạo nhằm phản đối về hình thức lao động giả dối này. Tôi thẳng thừng cho rằng đây là việc làm không thật trái với lời chư Phật đã dạy và không thích hợp với hạnh nhà tu. Linh Mục Nhì và Ngài đầu tộc Ngọc Phương cũng đều phản đối việc làm không chân thật trái với ý Chúa và lời dạy của Thánh Hiền! Ông Ba Giáo trả lời rằng: "Đây chỉ là bước đầu gợi ý xem có được hay không, chứ Ủy Ban mặt trận tỉnh chúng tôi còn phải thăm dò nhiều tôn giáo và đoàn thể khác nữa!”. Chính vì đó buổi lao động hình thức bị đình hoãn, thế là cuộc vận động quần chúng không thành. Chính quyền Mặt Trận tỉnh đã tổ chức một cuộc họp để lên án, chỉ trích và khuyến cáo tôi.
Hơn hai tháng sau, ông Thượng Tọa Thích Hiển Giác một cán bộ hoạt động thành, đội lốt Tôn giáo, là Cộng sản nằm vùng, đã đứng ra chủ trì phiên họp để bầu Ban đại diện Phật giáo tỉnh và Ban đại diện Phật giáo thị xã Bạc Liêu. Trong đó có cả ông Thích Huệ Hà (ông thầy thế độ của tôi cũng bị ông Hiển Giác giật dây xỏ mũi hoạt động cho cộng sản nữa), Đại Đức Thích Minh Đức tức Giáo sư Thành nay đã định cư tại Mỹ được mời làm thư ký buổi họp hôm ấy. Cuộc họp được tổ chức tại chùa Vĩnh Hòa có sự tham dự của mặt trận Tổ quốc tỉnh, mặt trận Tổ quốc thị xã và có cả công an. Khi mở đầu khai mạc cuộc họp, ông Thích Hiển Giác giới thiệu, nội dung chương trình và nhu cầu thành lập Ban đại diện tỉnh, thị xã…
Ngay lúc đó, tôi đã đứng dậy có thái độ phản ứng và tuyên đọc Thông tư của Tổng thư ký Viện Hóa Đạo GHPGVNTN do Hoà Thượng Thích Quảng Độ ấn ký phổ biến. Tôi còn nhớ trong nội dung thông tư có một đoạn nhấn mạnh như sau "Yêu cầu tất cả những thành viên trực thuộc GHPGVNTN phải bảo vệ chùa viện, Phật học viện, tự viện và các cơ sở là tài sản của giáo hội. Ngoài ra, bất cứ cá nhân nào tham chính được xem như tự ý ly khai khỏi giáo hội ". Sau khi tôi tuyên đọc lại nội dung này, lẽ tất nhiên ông Thích Hiển Giác và ông Thích Huệ Hà tỏ vẻ thất vọng vì đã là người tham gia chính quyền, thì 2 ông sẽ không đủ tư cách để triệu tập cuộc họp, hay nói đúng hơn các ông đã bị loại ra khỏi GHPGVNTN.
Nếu căn cứ theo tinh thần chỉ thị của thông tư nói trên, cho nên cuộc họp phải dừng lại và một lần nữa, tôi tiếp tục bị sự chú ý và bị lên án gắt gao hơn. Điều xót xa và đau lòng nhất của tôi là ông Thích Huệ Hà, vị ân sư khả kính của tôi đã giác ngộ cộng sản một cách nhiệt thành, nên tôi đành phải phụ tình Ngài, bởi “Quân bất minh thần bất trung, Phụ bất từ tử bất hiếu”. Tôi phải tìm hướng đúng để chọn đi và chỉ có 2 con đường "Hắc bạch phân minh", không có con đường nào khác, con đường tôi cho là hướng đúng, nhưng thật ra chỉ là con đường cũ tức con đường trung thành với GHPGVNTN, chứ không phải chạy theo Giáo hội của Chính quyền CS, một Giáo hội do nhà nước lập ra để làm công cụ cho Mặt trận, cho tôn giáo vận, cho Đảng cộng sản, một Hiệp hội Phật Giáo Việt Nam nhưng, theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa.
Thấm thoát mùa Phật Đản năm 1976 đã đến, tức kỷ niệm lần thứ 2520 ngày giáng sinh Đức Phật. Tôi có tổ chức một cuộc lễ khá quy mô, có cộ hoa, treo cờ phật giáo, biểu ngữ… đồng thời cũng là ngày tôi làm lễ An vị Phật “Đức Thích Ca Mâu Ni”. Cờ Phật giáo được treo, chạy dài hơn hai cây số, hai bên đường có hai hàng phật tử tay cầm cờ, cầm hoa hoặc cầm hương xếp hàng từ trong chùa ra tới cổng gần quốc lộ 1A hơn 200 mét. Trong lúc thượng cờ Phật giáo, có treo cả cờ của chính quyền theo đúng kích thước được chỉ định của Mặt Trận Tổ Quốc tỉnh, tức treo cờ tôn giáo phải nhỏ hơn 2/3 kích thước, so với lá cờ của chính quyền và theo sự hướng dẫn của thông tư, từ ngoài nhìn vào lá cờ tôn giáo treo bên trái, còn bên phải là cờ chính quyền. Mặc dầu tôi đã chấp hành đúng qui định như thế, nhưng chính quyền xã Châu Hưng tức ông Chủ tịch Phạm Văn Bé (Nay là Phó Chủ Tịch Hội Đồng Nhân Dân tỉnh Bạc Liêu) đã bảo anh ủy viên thư ký xã tên "Lếnh" đến chùa tôi ra lệnh treo lá cờ Phật giáo phải thấp hơn lá cờ của chính quyền 2 m và không được treo ngang nhau. Tôi trả lời rằng "Tôi đã hiểu rõ qui định của Mặt Trận Tổ Quốc tỉnh phổ biến và hướng dẫn cách thức treo cờ, nên tôi không thể treo lá cờ Phật giáo như lá cờ rũ, cờ tang được. Nếu chính quyền không đồng ý thì tôi sẽ trả lại chính quyền lá cờ của Nhà nước, và từ đây trở về sau tôi không treo lá cờ Nhà nước nữa. Ngay bây giờ tôi chỉ treo lá cờ của Phật giáo mà thôi, vì hôm nay là ngày lễ Phật Đản, chứ không phải là ngày lễ của nhà nước các ông, các ông nên nhớ rằng khắp năm châu, trên toàn thế giới nơi nào có đạo Phật nơi ấy đều có treo cờ Phật Giáo vào ngày hôm nay, chứ không phải riêng tại Việt Nam đâu".
Đây cũng là một cú sốc lớn giữa chính quyền địa phương xã với bổn tự của tôi, nên sau lễ Phật Đản hai ngày, tôi lại nhận được giấy mời với nội dung như sau: Khi nhận được thư mời vào thời điểm nửa đêm, với nội dung ra lệnh bắt buộc, giống như một tờ trát đòi, tôi biết chắc chắn sự việc chẳng tốt đẹp gì, nên tôi bố trí một số phật tử lớn tuổi, nhất là những gia đình có công với cái gọi là "Kách mạng" hay có con cháu tham gia kháng chiến, chẳng hạn như cụ Huỳnh Thị Tùng, có biệt danh là Bà Tám La lúc đó 74 tuổi. Cụ này là bà nội vợ của tên Tư Húa, và cụ Tô Thị Trời 76 tuổi có 2 người con đang công tác tại Bạc Liêu, Tư Mùi là trung uý công an huyện Vĩnh Lợi, Ba Công là đại uý trưởng đồn công an biên phòng tỉnh Minh Hải.
Tôi nhờ quý cụ này đi theo hỗ trợ, khi đến nơi tên Tư Húa ra lệnh bảo tôi phải tự làm đơn dâng hiến ngôi chùa Vĩnh Bình cho uỷ ban Xã Châu Hưng làm cơ quan xã đội với lý do ngôi chùa này của điền chủ, có một thời đã từng gây tội ác với nhân dân, đã từng hút máu nhân dân. Anh ta bảo rằng, nếu đồng ý thì anh ta sẽ giúp đỡ giới thiệu tôi thuyên chuyển đến bất cứ ngôi chùa nào trong tỉnh, và đến đó sẽ có chính quyền ủng hộ. Tôi trả lời rằng: "Mặc dầu chủ chùa đã hiến cho tôi để tu hành và cai quản tài sản, đất đai nơi đây, nhưng tôi là thành viên của giáo hội, nên tài sản này trực thuộc GHPGVNTN. Ông có thể trực tiếp đến Ban đại diện Phật giáo tỉnh, đề nghị vấn đề này hay nói cho đúng hơn là ông phải được sự chấp thuận của Viện Hoá Đạo GHPGVNTN, ngụ tại văn phòng số 243, Đường Sư Vạn Hạnh Quận 10, tức Tổ Đình Ấn Quang. Bản thân tôi làm Trụ Trì nhưng tôi không có quyền quyết định hiến ngôi chùa này cho nhà nước được, vì đây là nguyên tắc về thủ tục hành chính và giáo uy của GHPGVNTN”.
Tôi vừa nói tới đó thì các cụ Phật tử xuất hiện, lên tiếng la rất to "Bộ chúng mầy muốn chiếm chùa hả! Tụi mầy muốn bắt ông thầy hả! Đồ ăn cướp". Tên Tư Húa trông thấy bà Tám La là bà nội vợ của mình nên vội vã năn nỉ các cụ và mời nhỏ nhẹ để các cụ ra về trong đêm. Ngày hôm sau tôi đem lá thư mời của anh Tư Húa đến trình với ông Huỳnh Nghiệp Đoàn Chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc huyện Vĩnh Lợi, nguyên Trưởng ban công an huyện Vĩnh Lợi vừa mới chuyển đến, ông Ngô Tam Đạo Chủ tịch MTTQ tỉnh Minh Hải, ông Thích Hiển Giác Phó Ban tôn giáo vận kiêm uỷ viên MTTQ tỉnh và ông Thích Huệ Hà uỷ viên MTTQ tỉnh. Ông Huỳnh Nghiệp Đoàn, tự là Tư Nhẫn hứa với tôi là ông sẽ thông báo cho ông Tô Minh Hiển, tức Năm Hiển, Bí Thư huyện Ủy, huyện Vĩnh Lợi, ông Bùi văn Lẹ, Trưởng công an huyện, và ông huyện Đội trưởng để khiển trách tên Tư Húa.
Việc khiển trách không biết có hay không, nhưng hơn 1 tuần lễ sau, tên Tư Húa lại tiếp tục gởi cho tôi 1 lá thư thứ hai, với nội dung cũng tương tự như lá thư thứ nhất, đặc biệt là thời gian đưa thư là lúc 2 giờ sáng. Khi tôi đến, hắn ta dùng lời lẽ dọa dẫm bắt nạt, anh ta nói rằng "Tôi nhất định sẽ cưỡng chiếm ngôi chùa này bằng mọi cách". Hôm sau, tôi cầm cả 2 bức thư nói trên và cùng với Hoà Thượng Thích Tịnh Hạnh đương kim Chánh đại diện tỉnh Hậu Giang đi đến Tổ Đình Ấn Quang để trình cho Hội đồng Viện Hoá Đạo và sau đó chúng tôi đến trực tiếp xin gặp ông Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Ông Thọ ra chỉ thị cho Chánh văn phòng của ông gửi một văn thư về địa phương, khi tôi về Bạc Liêu và gặp ngay anh Ngô tư Húa để trình xem. Tư Húa xé ngay văn thư sau khi đọc xong và nói rằng: "Chừng nào thằng Thọ, thằng Phát tức Huỳnh Tấn Phát Chủ tịch Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam, xuống tận đây thì mới không lấy ngôi chùa này mà thôi!". Khi nghe nói xong tôi biết cái tôn ty trật tự của Cộng Sản chỉ gật đầu tuân thủ ngay trước mặt, chứ sau lưng thì… và “Phép vua thua lệ làng rồi”. Từ đó tôi liên tục gởi nhiều lá đơn đến Trung Ương Hà Nội như:
1.Ông Tôn Đức Thắng Chủ Tịch nước.
2.Ông Phạm Văn Đồng Thủ tướng Chính Phủ.
3.Ông Trần Hữu Dực, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
4.Ông Phạm Văn Bạch Chánh Án Toà Án Nhân dân Tối cao.
Rồi thời gian cứ trôi, tôi cứ chờ và chờ mãi… mà chẳng thấy ai giải quyết, cũng chẳng thấy ai hồi âm. Một bữa nọ, tên Tư Húa đến chùa của tôi và nói “Tôi lỡ hứa với thằng Hai Thổ, xã Đội Trưởng xã Châu Hưng trong tiệc nhậu là sẽ tìm cho nó một chỗ để làm cơ quan xã Đội và nó thách tôi nếu quản lý ngôi chùa Vĩnh Bình thì mới hay! Ông hãy thu xếp đi nơi khác giúp tôi”. Tôi trả lời “Mấy Ông nói chuyện như bỡn, đừng mong có chuyện tôi hiến chùa để làm cơ quan”.
Không được toại nguyện, từ đó Tư Húa càng căm ghét tôi. Lúc nầy ở tỉnh Minh Hải, tôi cùng Hoà Thượng Thích Trí Đức phải đi vận động để thành lập Ban đại diện GHPGVNTN ngầm của tỉnh. Chúng tôi không thể hoạt động phật sự công khai, vì Giáo Hội Phật Giáo thuần túy luôn luôn bị Ban tôn giáo vận và các ông tham gia Mặt trận bóp chẹt. Điều đáng buồn là tỉnh Minh Hải có vài thành viên có chức vụ cao trong Ban đại diện tự ý ly khai khỏi Giáo hội, họ tham gia chính quyền Mặt Trận và Phật Giáo do nhà nước lập ra, họ ép buộc các thành viên của Ban đại diện các cấp phải tham gia Phật Giáo do nhà nước thành lập. Từ đó mọi công tác Phật sự của Giáo hội bị bế tắc, Giáo hội nói riêng và Phật Giáo nói chung lâm vào thời kỳ Pháp Nạn. Đồng bào Phật tử tại tỉnh nhà chưa thấu hiểu, nên phân vân, nghi ngại và ít nhiều sợ sệt chính quyền cộng sản. Trong khi đó, GHPGVNTN ở Trung ương thì Hội đồng Viện Hóa Đạo đã bắt đầu bị khủng bố, kẻ bị bắt, người bị chụp mũ, kẻ bị hăm dọa, người bị tù đày.
Tại các địa phương Cộng sản bắt đầu đàn áp Phật giáo đến nỗi Đại Đức Thích Huệ Hiền, thế danh Phạm văn Có, trụ trì Thiền viện cùng chư tăng ni tự thiêu tập thể vào ngày 2.11.75 tại Thiền viện Dược sư ở Cần Thơ để phản kháng chính quyền độc tài cộng sản vô thần đàn áp tôn giáo. Tại Sóc Trăng thì ông Nguyễn Trung Nhựt, tự là Hữu Thương, Chủ tịch Mặt trận TQ tỉnh Hậu Giang, ông Nguyễn Văn Nghiêm, tức Mười Nghiêm, Chủ tịch MT thị xã Sóc Trăng và ông Nguyễn Văn Chèo, tự Bảy Chèo Trưởng ban an ninh nội chính tỉnh Hậu Giang, tổ chức cuộc họp tại trường Bồ đề Sóc Trăng do các ông nầy đứng ra chủ trì, để kết tội và bắt giam Hoà Thượng Thích Thiện Đức, Trụ trì chùa Phước Sơn, Chánh đại diện GHPGVNTN tỉnh Ba Xuyên trước đây. Họ qui kết Hòa Thượng là CIA của Mỹ để chiếm trường Bồ Đề sung công tài sản và cơ sở thờ tự, kể cả văn phòng của Ban đại diện GHPG tỉnh. Ngay tại trung ương, Cộng sản đã xông vào chùa bắt Hoà Thượng Thích Thiện Minh, thế danh Đỗ Xuân Hàn, cố vấn Viện Hóa Đạo. Hòa Thượng đã bị tra tấn đánh bể sọ và chết trong nhà giam X4 sở công an vào ngày 16-10-1978. Ngoài ra ở khắp các tỉnh nhiều ngôi chùa, trường học, Tự viện và tài sản Giáo hội bị quản lý sung công. Những ngày tháng này, tại Tổ đình Ấn Quang, văn phòng Viện Hóa Đạo lúc này ăn gạo đỏ gần như ăn độn, một tô canh nấu với một nắm nui lõng bõng. Hòa Thượng Thích Thiện Hòa, Viện chủ phải ngồi trên xe lăn tay. Đại Đức Thích Minh Phát một mình phải bươn chải rất vất vả để qúy Ôn, quý thầy, tạm đỡ lòng với tương, dưa, rau, muối qua ngày.
Từ Bạc Liêu tôi thỉnh thoảng đi cùng Hòa Thượng Thích Tịnh Hạnh, đương kiêm Chánh đại diện GHPGVN Tỉnh Hậu Giang và Hoà Thượng Thích Huyền Vân phó Đại diện. Hòa Thượng cũng là huynh đệ đồng sư môn của "Ôn" đương kiêm Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN hiện nay. Chúng tôi thường mang theo đi đường một hoặc hai bao cát đựng gạo trắng, đem đến chùa Ấn Quang để cúng dường quí Chư Tôn Đức. Trên đường đi, chúng tôi phải vượt qua nhiều trạm xét hỏi, có khi bị tịch thu, thật vô cùng khó khăn, để trình bày cho thấu tình đạt lý với công an và quản lý thị trường. Chúng tôi nhiều lúc phải nài nỉ hoặc biết cư xử khéo mới qua khỏi trạm được an toàn, mà đường dài hơn 300 cây số, lại phải qua rất nhiều trạm kiểm soát chứ chẳng dễ dàng gì.
Một hôm chúng tôi bị trạm xét xe liên tục nên đến thành phố quá khuya đành phải thuê ghế bố tại xa cảng miền Tây để tạm nghỉ qua đêm. Trên đời có những chuyện chúng tôi chưa từng biết và cũng không thể ngờ về giới bụi đời, những tay gọi là “lục lâm giang hồ”, nghịch ngợm mánh khóe như sau: Khi tôi nằm ngủ kê đầu bằng cái đãy trong đó có bộ y phục, giấy tờ tùy thân và ít tiền làm xa phí đi đường. Qua một ngày dài vất vả mệt nhọc, tôi đang thiu thiu ngủ thì vài anh bợm giang hồ đi ngang qua dưới chân, họ khều chân bất ngờ khiến tôi giật mình ngồi bật dậy, đến khi tôi nằm xuống trở lại thì ôi thôi! Cái đãy kê đầu của tôi không cánh mà bay mất rồi! Lúc này thật hết sức là khổ! không còn tiền để trả tiền mướn ghế bố, đành xin khất nợ bà chủ vậy! Từ giờ đó trở đi tôi không chợp mắt được, trong lòng xốn xang, ray rứt, buồn buồn chỉ mong sau cho trời mau sáng. Khi trời hừng sáng thì tại phòng bán vé mọi người đã nhộn nhịp đến đăng ký mua vé xe. Lúc ấy các nhân viên xa cảng thông báo trên loa phóng thanh tên người bị thất lạc giấy tờ. Nghe gọi đúng tên mình, tôi vội vào xem thì thấy cái đãy của tôi treo gần chỗ bán vé. Sau khi xin nhận lại và kiểm tra thì quần áo, giấy tờ tùy thân còn đủ nhưng mất hết tiền rồi! Cuối cùng, chúng tôi phải tạm bao xe tới Ấn Quang gặp thầy Minh Phát xin ít tiền để trả.
Sau cái xui rủi đó, lại có niềm vui là khi chúng tôi đến phòng riêng để gặp Hòa Thượng Thích Thuyền Ấn, lúc ấy Ngài là Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hoằng Pháp. Chúng tôi trình bày tiện dịp đi công tác phật sự, chúng tôi có mang theo gạo trắng thơm, từ dưới quê lên cúng dường quí chư Tôn đức. Hoà Thượng Thích Thuyền Ấn nở nụ cười thật hoan hỷ và thân tình trò chuyện với chúng tôi khá lâu. Ngài có phân tích một số trở ngại khó khăn trong công tác hoằng pháp và hành hóa của Giáo Hội hiện nay. Sau đó, ngài còn tặng về cho mỗi tỉnh 10 quyển Lịch Xuân. Thời điểm này chúng tôi cũng thường xuyên đi về Trung ương gặp Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN, để báo cáo tình hình phật sự tại tỉnh nhà và đến chùa Giác Minh gặp Hòa Thượng Thích Quảng Độ, lúc ấy Ngài là Tổng Thư ký Viện Hóa Đạo GHPGVNTN để bàn về việc thành lập Ban đại diện kín tại 2 tỉnh Bạc Liêu và Hậu Giang, đồng thời vấn an sức khoẻ của hai Ngài và tìm hiểu một số công tác phật sự của giáo hội cần làm trong thời gian tới. Lúc ấy tôi có tham gia phụ trách cả hai Ban đại diện Bạc Liêu và Hậu Giang góp phần cùng Hòa Thượng Thích Trí Đức và Hoà Thượng Thích Tịnh Hạnh của hai tỉnh nói trên. Để rút kinh nghiệm của những lần mất mát đồ đạt khi ngủ trọ tại xa cảng miền Tây, những chuyến đi kế tiếp tôi cùng Hoà Thượng Thích Tịnh Hạnh tìm cách đến sớm hơn, hoặc tạm nghỉ tại Cao Đẳng Phật Học Viện Huệ Nghiêm, nơi đây Hòa Thượng Thích Bửu Huệ làm Viện chủ, sẵn tiện thăm thầy Phước Tài đang là Tăng sinh nơi đây.
Trở lại câu chuyện chùa Vĩnh Bình, từ khi tôi đệ đơn ra Hà Nội đến nay để khiếu tố về hành vi của tên Tư Húa cậy thế ỷ quyền, đòi cưỡng chiếm ngôi chùa một cách phi pháp. Đơn thư gửi đi nhiều lượt mà bặt vô âm tín, chẳng thấy phản hồi. Thời gian cứ dần dà trôi, tôi chờ trong sự tuyệt vọng gần như cháy cả tim gan. Bên cạnh, biết bao chuyện dồn dập phải đối phó, và sự lộng hành của tên ác quỉ Tư Húa ngày càng leo thang. Chính quyền xã Châu Hưng bất lực trong trạng thái đồng tình một cách ngấm ngầm để tên Tư Húa lộng quyền tác oai, tác quái.
Một hôm ân sư tôi là Hoà Thượng Thích Tịnh Hạnh trên đường xe đi từ Cà Mau về Sóc Trăng, Ngài ghé tạt ngang vào chùa thăm tôi tại Bạc Liêu. Hòa Thượng vừa bước xuống xe thì tên Tư Húa ở đâu lù lù hiện ra trước mắt, hai tay chống nạnh vẻ mặt bặm trợn miệng méo sệch một bên do có một vết sẹo chạy dài trên gương mặt hắn, nghe nói hắn đã bị thương suýt chết trước đây, khi ban đêm bò ra ngoài thành hoạt động. Hắn trông rất hung hãn, dữ tợn ra oai hùng hổ, miệng quát tháo: “Ê! thằng cha thầy chùa kia đi đâu đó! Có giấy tờ đi đường không?”. Hòa Thượng mỉm cười trả lời “Đi ngang đây hết tiền, tôi ghé chùa Thầy Thiện Minh xin ít tiền xe rồi đi liền”. Mặc cho vị hòa Thượng nói gì thì nói, tên Tư Húa miệng vừa khạc phun nước miếng bốc mùi ba xị đế vừa ra lệnh “Mời anh về cơ quan công an xã làm việc, vì đi đường ghé địa phương này bất hợp pháp”.
Hay tin, tôi đến gặp ông Trần Văn Trọng, tức ông Năm Trọng, Bí thư xã Châu Hưng, ông Phạm Văn Bé, tức Năm Bé, Chủ tịch xã, Ông Hà Văn Tiền tức Tám Tiền, Trưởng công an xã. Tôi đề nghị các ông nầy trả tự do cho Hoà Thượng. Nhưng, họ bó tay vì nể nang Tư Húa là người ở cấp Huyện, lại trong ngành quân báo "Tình báo quân đội". Lúc bấy giờ đã gần 6 giờ tối, đồng bào phật tử khắp các ấp qui tụ bao quanh công an xã, càng lúc càng đông khoảng 400-500 người, làm nghẽn cả lối đi. Trong khi tôi đang đứng tiếp xúc với mọi người đến hỏi thăm sự việc, thì có nhiều tiếng hô to của đồng bào chửi rủa tên Tư Húa: "Đả đảo thằng Tư Húa! đồ ác độc! thằng Tư Húa đồ tàn nhẫn! loại ngang tàng, hung hãn, mất dạy bắt thầy tu!". Vẻ mặt Tư Húa cứ vênh váo, giọng nói hách dịch, điệu bộ phách lối đi vào đi ra.
Ủy Ban Nhân Dân xã thì phó mặc để tên Tư Húa tung hoành. Tôi nghĩ có lẽ đây là chứng bệnh công thần và bệnh kiêu ngạo của tên Tư Húa, cho dù hắn ta chỉ là tên chuẩn uý quèn. Sau ngày 30-04-75 hắn ra mặt tỏ vẻ oai phong, cho mình là có quyền lực. Ở xã nầy ai cũng biết có một thời Tư Húa đã từng làm nội ứng ở ấp Cái Dầy. Hắn đi nhân dân tự vệ của chính quyền cũ, ban đêm hắn báo tin cho Việt cộng đột nhập bắt cả trưởng, phó ấp và một số nhân dân tự vệ rồi chính tay y giết chết trong rừng sâu, cho nên hắn ta lúc nào cũng tự hào là đã đạt được kỳ công. Chính vì lẽ đó UB xã có phần nể mặt nhau một chút, nên cũng khó nói. Trong lúc ấy ông phó công an xã tên gọi là Tám Minh đến nói với tôi: "Thôi ông thầy và quí bà con cô bác giải tán về đi! đêm nay tôi sẽ dành chiếc ghế bố của tôi cho ông Hòa Thượng tạm nghỉ, xin quí vị đừng lo". Thế là thầy tôi phải ngủ một đêm tại cơ quan công an xã Châu Hưng. Còn tôi thì về chùa mà trong lòng thấp thỏm không yên. Tôi vẫn biết mọi việc rất bình thường, chẳng có gì là quan trọng cả. Nhưng, tên Tư Húa cố ý muốn làm lớn chuyện để làm oai với tôi.
Sáng hôm sau, tôi mặc một bộ đồ cũ mèm với dáng vẻ một người đang đau khổ xách một chiếc giỏ, đựng bên trong một chiếc bánh mì và một ly cà phê sữa.Tôi cố ý cho mọi người nhìn thấy, nhất là người mẹ của tên Tư Húa là bà Mười Quang và chị ruột là cô Ba Khiếm, họ là những người đàng hoàng trong xóm, họ đang bán một quán nước bên đường. Tôi biết, nếu họ trông thấy tôi và hiểu sự việc, chắc họ sẽ thúc ép hoặc lên tiếng trách cứ đứa con, đứa em quan liêu cao ngạo này! Đúng là "Oán tắng hội khổ" trên đường đi độc đạo bất ngờ tôi lại trông thấy tên Tư Húa đi ngược chiều từ xa tiến lại. Tôi không muốn nhìn mặt tên ác gian chút nào cả, nhưng hết đường né tránh đành buộc lòng tôi phải hỏi hắn ta một tiếng “Anh Tư, tôi đề nghị anh nên giải quyết, thả ông thầy tôi về chùa”. Tên Tư Húa miệng cười nhếch mép khinh khỉnh trả lời "Tại sao hôm qua ông khinh dễ tôi? ông không hỏi tôi một tiếng, nếu hỏi thì tôi đã thả rồi!”. Anh ta lại nói tiếp, vừa nói vừa chỉ tay vào cơ quan xã Châu Hưng “Bọn quỷ ma xã này có quyền gì mà hỏi! Thôi ông đưa ổng về chùa đi, ông nói với công an xã là lệnh của Tư Húa, từ đây về sau ông đừng coi thường tôi nữa nhé!".
Khi tôi đến rước Hoà Thượng ra về, ông chủ tịch xã Năm Bé nói: “Tư Húa bảo thầy phải làm đơn xin bảo lãnh”. Vì quá nóng lòng lo cho thầy của mình, nên tôi đành phải làm đơn, sau đó thầy trò tôi về chùa. Về đến chùa, Trong lúc chúng tôi đang dùng ngọ trưa, Tư Húa lại xuất hiện từ ngoài cửa chùa xồng xộc xông vào chẳng hỏi ai và hắn ta nhìn mâm cơm nói: “Tu hành gì mà mâm cơm tới ba, bốn món vậy! Nào là rau sống, tàu hủ kho, chao, tô canh rau muống… Nhớ khi đã làm đơn bảo lãnh rồi, sau này bất cứ lúc nào tôi cần làm việc với ông già này là phải đem đến trình diện nhé! " nói rồi hắn ta bỏ đi ra…